Sign In

Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ động nâng cao năng lực bảo vệ an ninh mạng, bảo đảm an toàn cho hệ thống dữ liệu ngành

11:16 05/09/2026

Chọn cỡ chữ A a  

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 3355/QĐ-NNMT về việc Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án “Nâng cao năng lực hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng quốc gia” của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Đây là bước cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ của Đề án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 515/QĐ-TTg ngày 30/3/2026, đồng thời đặt ra những yêu cầu cụ thể nhằm củng cố năng lực bảo vệ không gian mạng trong toàn Bộ, nhất là đối với các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quan trọng phục vụ quản lý nhà nước.

Kế hoạch được xây dựng trên cơ sở các yêu cầu mới về dữ liệu, công nghiệp công nghệ số, chuyển đổi số và an ninh mạng, đồng thời gắn với việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Điểm đáng chú ý là công tác bảo đảm an ninh mạng không được xác định đơn thuần là nhiệm vụ kỹ thuật của bộ phận công nghệ thông tin, mà được đặt trong tổng thể quản trị, bảo vệ hệ thống thông tin, dữ liệu và hoạt động quản lý nhà nước của Bộ.

Bảo vệ an ninh mạng gắn với bảo vệ dữ liệu và hoạt động quản lý nhà nước

Bộ Nông nghiệp và Môi trường hiện quản lý nhiều lĩnh vực có phạm vi rộng, hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu ngày càng đa dạng, phục vụ trực tiếp công tác chỉ đạo, điều hành, cung cấp dịch vụ công và quản lý nhà nước. Trong quá trình chuyển đổi số, dữ liệu trở thành một nguồn lực quan trọng, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu ngày càng cao về bảo đảm an toàn, bảo mật và khả năng duy trì hoạt động liên tục của các hệ thống.

Trên cơ sở đó, Kế hoạch xác định mục tiêu tổng quát là nâng cao năng lực tổng thể, xây dựng lực lượng bảo vệ an ninh mạng của Bộ theo hướng tinh nhuệ, hiện đại; chủ động phòng ngừa và sẵn sàng ứng phó với các nguy cơ, thách thức trên không gian mạng; bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đồng thời, một mục tiêu trực tiếp được đặt ra là bảo đảm an toàn, an ninh đối với các hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu chuyên ngành của Bộ, qua đó phục vụ hiệu quả hơn hoạt động quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công.

Kế hoạch đặt ra các mục tiêu cụ thể đến năm 2030. Trong đó, 100% lực lượng bảo vệ an ninh mạng được bố trí tại các cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; cán bộ trực tiếp quản trị, vận hành hệ thống thông tin cấp độ 3, 4, 5 phải có chứng nhận đáp ứng yêu cầu về kiến thức, kỹ năng chuyên sâu về an ninh mạng do cơ quan có thẩm quyền cấp. Bộ cũng phấn đấu xây dựng đội ngũ ít nhất 10 chuyên gia an ninh mạng chuyên sâu, từng bước tiếp cận trình độ khu vực và quốc tế.

Cùng với yếu tố con người, Kế hoạch hướng tới thiết lập cơ chế phối hợp thường xuyên giữa các đơn vị thuộc Bộ với Cục Chuyển đổi số và các cơ quan chức năng trong xử lý sự cố, chia sẻ thông tin, cảnh báo và ứng cứu sự cố an ninh mạng. Đáng chú ý, đến năm 2030, Bộ đặt mục tiêu 70% hệ thống thông tin quan trọng quốc gia của Bộ triển khai, sử dụng các sản phẩm, giải pháp công nghệ chiến lược “Make in Vietnam”; 100% sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng phải được kiểm định, đánh giá trước khi đưa vào sử dụng và 100% hệ thống thông tin sử dụng vốn ngân sách nhà nước được triển khai đầy đủ các phương án bảo đảm an ninh mạng theo cấp độ.

Từ hoàn thiện thể chế đến quản trị rủi ro

Một trong những nội dung quan trọng của Kế hoạch là hoàn thiện hành lang pháp lý và các quy định nội bộ về bảo đảm an toàn, an ninh mạng. Bộ sẽ rà soát, cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hướng dẫn; sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các quy chế, quy định nội bộ; tổ chức áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và tăng cường đánh giá, kiểm tra, giám sát việc tuân thủ đối với các hệ thống thông tin thuộc phạm vi quản lý.

Đặc biệt, Kế hoạch yêu cầu rà soát, lập danh mục và phân loại các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quan trọng của Bộ. Đây là bước có ý nghĩa nền tảng, bởi việc xác định rõ hệ thống nào quan trọng, mức độ rủi ro ra sao và yêu cầu bảo vệ tương ứng như thế nào sẽ giúp nguồn lực được tập trung đúng trọng tâm, thay vì triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn theo cách dàn trải.

Kế hoạch cũng định hướng từng bước chuyển từ quản lý kỹ thuật sang quản trị rủi ro tổng thể. Đây là sự thay đổi quan trọng trong tư duy bảo đảm an ninh mạng: không chỉ tập trung vào thiết bị, phần mềm hay các biện pháp xử lý sự cố, mà phải nhận diện rủi ro từ hệ thống, dữ liệu, quy trình, con người và hoạt động quản trị; từ đó chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và có phương án ứng phó phù hợp.

Cùng với đó, Bộ sẽ triển khai bộ chỉ số đánh giá năng lực bảo đảm an ninh mạng đối với các cơ quan, đơn vị; kết nối hệ thống chia sẻ thông tin, cảnh báo an ninh mạng; triển khai nền tảng giám sát, điều hành an ninh mạng để theo dõi tình hình thực hiện nhiệm vụ tại các đơn vị. Việc xây dựng kế hoạch kiểm tra hằng năm cũng được thực hiện dựa trên mức độ quan trọng của hệ thống thông tin, kết quả đánh giá rủi ro, phân loại cấp độ an toàn hệ thống và tình hình triển khai các nhiệm vụ bảo vệ an ninh mạng.

Xây dựng lực lượng đủ mạnh, không chỉ dựa vào công nghệ

Một hệ thống an ninh mạng dù được đầu tư về công nghệ nhưng thiếu nhân lực có năng lực chuyên môn vẫn khó đáp ứng yêu cầu bảo vệ trong thực tế. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực được Kế hoạch xác định là một trong những nhóm nhiệm vụ trọng tâm.

Bộ sẽ tổ chức các chương trình bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho lãnh đạo Bộ, lãnh đạo các đơn vị và người đứng đầu các đơn vị quản lý hệ thống thông tin, qua đó nâng cao nhận thức và trách nhiệm trong chỉ đạo, điều hành công tác bảo đảm an toàn, an ninh mạng. Đối với lực lượng chuyên môn, các chương trình đào tạo chuyên sâu sẽ được triển khai cho cán bộ Cục Chuyển đổi số, thành viên Tiểu ban An ninh mạng, cán bộ đầu mối tại các đơn vị và lực lượng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ.

Đối tượng đào tạo cũng được mở rộng tới đội ngũ quản trị hệ thống, quản trị mạng, quản trị cơ sở dữ liệu, nền tảng số, điện toán đám mây và cán bộ vận hành hệ thống thông tin. Đồng thời, chương trình nhận thức về an toàn, an ninh mạng được tổ chức thường xuyên cho toàn thể cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của Bộ.

Một điểm đáng chú ý là Kế hoạch không dừng ở đào tạo lý thuyết mà yêu cầu định kỳ tổ chức thực hành xử lý tình huống, mô phỏng sự cố, diễn tập kỹ thuật và đánh giá năng lực sau đào tạo. Cách tiếp cận này giúp chuyển kiến thức thành năng lực ứng phó thực tế, nhất là trong những tình huống mà tốc độ phát hiện, phối hợp và xử lý quyết định trực tiếp đến mức độ ảnh hưởng của sự cố.

Theo danh mục nhiệm vụ trọng tâm, trong giai đoạn 2026-2027, Bộ sẽ tham mưu triển khai chương trình khung, tài liệu, giáo trình đào tạo, tập huấn về bảo vệ an ninh mạng và chuẩn hóa hoạt động đào tạo theo từng cấp độ năng lực. Hằng năm, Bộ tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn cho các nhóm đối tượng từ lãnh đạo, quản lý đến người dùng cuối và nhân sự kỹ thuật; đồng thời khuyến khích cán bộ tham gia các chương trình thi lấy chứng chỉ quốc tế.

Tăng khả năng ứng phó, hình thành cơ chế bảo vệ nhiều lớp

Kế hoạch cũng đặt trọng tâm vào việc tổ chức lực lượng và cơ chế phối hợp. Tiểu ban An ninh mạng của Bộ sẽ được kiện toàn trong quý IV/2026; đồng thời Bộ tổ chức rà soát, xây dựng và kiện toàn mô hình lực lượng bảo vệ an ninh mạng tại các cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý, vận hành hệ thống thông tin quan trọng.

Đội ứng cứu sự cố an ninh mạng của Bộ cũng được kiện toàn và nâng cao năng lực. Theo danh mục nhiệm vụ trọng tâm, hằng năm Bộ sẽ tổ chức ít nhất một cuộc diễn tập chuyên đề về an ninh mạng, ứng cứu sự cố trong phạm vi Bộ, đồng thời phối hợp, tham gia các cuộc diễn tập quốc gia và quốc tế do Bộ Công an tổ chức.

Cơ chế phối hợp được thiết kế theo hướng kết nối nhiều cấp, từ Tiểu ban An ninh mạng, Cục Chuyển đổi số, Văn phòng Bộ và các đơn vị quản lý hệ thống thông tin đến các cơ quan chuyên trách, các bộ, ngành, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ an ninh mạng. Mục tiêu là tạo khả năng trao đổi thông tin, cảnh báo sớm, huy động nguồn lực và hỗ trợ xử lý khi phát sinh sự cố.

Đáng chú ý, Bộ đặt nhiệm vụ kết nối nền tảng theo dõi, điều hành an ninh mạng của Bộ vào nền tảng theo dõi, điều hành an ninh mạng quốc gia trong giai đoạn 2026-2027. Đây là hướng đi quan trọng để tăng khả năng liên thông trong giám sát, chia sẻ thông tin và phối hợp xử lý các nguy cơ trên không gian mạng.

Ưu tiên công nghệ chiến lược và giải pháp “Make in Vietnam”

Cùng với tổ chức lực lượng và đào tạo nhân lực, Kế hoạch dành một nhóm nhiệm vụ riêng cho nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ. Bộ sẽ rà soát, đề xuất danh mục sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng ưu tiên sử dụng; tăng cường hợp tác với doanh nghiệp công nghệ số, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ an toàn, an ninh mạng và các tổ chức có năng lực.

Việc ưu tiên các sản phẩm, giải pháp “Make in Vietnam” được đặt trong mục tiêu cụ thể của Kế hoạch, đồng thời gắn với yêu cầu đánh giá, kiểm định sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng trước khi đưa vào sử dụng. Cách tiếp cận này vừa góp phần nâng cao năng lực tự chủ về công nghệ, vừa tạo điều kiện để các sản phẩm, giải pháp trong nước được nghiên cứu, thử nghiệm và ứng dụng trong thực tế quản lý nhà nước.

Kế hoạch cũng khuyến khích các đơn vị thuộc Bộ nghiên cứu, đề xuất, thử nghiệm và ứng dụng các giải pháp, mô hình, công nghệ mới; ưu tiên những giải pháp có khả năng sử dụng chung, tích hợp và mở rộng. Kết quả nghiên cứu, sáng kiến và mô hình triển khai hiệu quả sẽ được chia sẻ giữa các đơn vị, đồng thời lồng ghép nội dung nghiên cứu, đổi mới sáng tạo vào các chương trình chuyển đổi số và phát triển khoa học, công nghệ của Bộ.

Triển khai đồng bộ, xác định rõ trách nhiệm

Để bảo đảm Kế hoạch đi vào thực chất, Quyết định số 3355/QĐ-NNMT phân công tương đối rõ trách nhiệm cho các đơn vị. Cục Chuyển đổi số giữ vai trò đầu mối trong tham mưu kiện toàn lực lượng, hướng dẫn và theo dõi thực hiện Kế hoạch, xây dựng chương trình công tác hằng năm, tổ chức kiểm tra, đánh giá, diễn tập ứng cứu sự cố, tổng hợp nhu cầu đầu tư và xây dựng hệ thống theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện.

Vụ Tổ chức cán bộ phối hợp kiện toàn đầu mối, xây dựng yêu cầu về năng lực và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực. Vụ Kế hoạch - Tài chính tham mưu bố trí kinh phí, hướng dẫn xây dựng dự toán, dự án đầu tư hoặc thuê dịch vụ. Vụ Pháp chế tham gia thẩm định, hoàn thiện các quy định và phối hợp phổ biến pháp luật về an ninh mạng.

Các đơn vị trực thuộc Bộ có trách nhiệm trực tiếp triển khai nhiệm vụ theo phân công, bố trí nhân lực và kinh phí, rà soát hiện trạng, đánh giá rủi ro, xây dựng phương án khắc phục; đồng thời tổ chức đào tạo, tuyên truyền, diễn tập, kiểm tra, tự đánh giá và thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo. Kế hoạch cũng yêu cầu các đơn vị lồng ghép nhiệm vụ bảo đảm an ninh mạng vào chương trình công tác hằng năm, gắn công tác này với chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin và phát triển Chính phủ số.

Chủ động bảo vệ không gian mạng để tạo nền tảng cho chuyển đổi số

Việc ban hành Quyết định số 3355/QĐ-NNMT cho thấy Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang tiếp cận an ninh mạng như một thành tố thiết yếu của quá trình chuyển đổi số và hiện đại hóa quản lý nhà nước. Khi dữ liệu, nền tảng số và hệ thống thông tin ngày càng giữ vai trò quan trọng trong hoạt động của cơ quan nhà nước, yêu cầu bảo vệ các nguồn lực này cũng phải được đặt song song với quá trình xây dựng và phát triển chúng.

Với các mục tiêu cụ thể đến năm 2030, cùng hệ thống nhiệm vụ trải rộng từ hoàn thiện thể chế, kiện toàn tổ chức, đào tạo nhân lực, giám sát và ứng cứu sự cố đến nghiên cứu, ứng dụng công nghệ và hợp tác quốc tế, Kế hoạch tạo ra một khung triển khai tương đối toàn diện cho công tác bảo vệ an ninh mạng trong toàn Bộ.

Đáng chú ý, nhiều nhiệm vụ đã được xác định ngay từ năm 2026-2027 như kiện toàn Tiểu ban An ninh mạng, kiện toàn Đội ứng cứu sự cố, xây dựng chương trình đào tạo, kết nối nền tảng theo dõi, điều hành an ninh mạng với nền tảng quốc gia và tổ chức các cuộc diễn tập chuyên đề. Đây là những nhiệm vụ có tính nền tảng, tạo tiền đề để từng bước hình thành lực lượng bảo vệ an ninh mạng có tổ chức, có chuyên môn, có công cụ và có cơ chế phối hợp thống nhất.

Trong tiến trình chuyển đổi số của ngành Nông nghiệp và Môi trường, bảo đảm an ninh mạng vì vậy không chỉ là yêu cầu để xử lý những nguy cơ phát sinh trên không gian mạng, mà còn là điều kiện để các hệ thống số, dữ liệu số và các nền tảng phục vụ quản lý nhà nước có thể vận hành ổn định, liên tục và an toàn. Việc triển khai hiệu quả Quyết định số 3355/QĐ-NNMT sẽ góp phần xây dựng môi trường số an toàn hơn, củng cố năng lực quản trị dữ liệu và hệ thống thông tin, qua đó tạo nền tảng vững chắc cho quá trình phát triển Chính phủ số và chuyển đổi số toàn diện của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Văn phòng Cục Viễn thám quốc gia

Ý kiến

Thi đua, khen thưởng trong ngành Nông nghiệp và Môi trường: Đề cao cống hiến, đổi mới và hiệu quả thực chất

Thi đua, khen thưởng trong ngành Nông nghiệp và Môi trường: Đề cao cống hiến, đổi mới và hiệu quả thực chất

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Thông tư số 34/2026/TT-BNNMT ngày 14/8/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng trong ngành Nông nghiệp và Môi trường. Thông tư là văn bản quan trọng nhằm cụ thể hóa các quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng, đồng thời thiết lập những tiêu chí, danh hiệu và quy trình phù hợp với đặc điểm tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và phạm vi hoạt động rộng lớn của ngành Nông nghiệp và Môi trường.
Đo lường để cải cách thực chất: Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Chỉ số cải cách hành chính (CCHC) áp dụng thống nhất cho các đơn vị trực thuộc

Đo lường để cải cách thực chất: Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Chỉ số cải cách hành chính (CCHC) áp dụng thống nhất cho các đơn vị trực thuộc

Một hệ thống đánh giá CCHC thống nhất, định lượng và minh bạch đang được Bộ Nông nghiệp và Môi trường thiết lập cho toàn bộ các đơn vị hành chính trực thuộc. Với 41 tiêu chí, 74 tiêu chí thành phần, cơ chế tự đánh giá gắn với tài liệu kiểm chứng và thẩm định độc lập, Chỉ số cải cách hành chính sẽ trở thành một công cụ quản trị quan trọng, qua đó chuyển trọng tâm từ “thực hiện nhiệm vụ” sang “đo lường kết quả và trách nhiệm”. Đối với Cục Viễn thám quốc gia, việc triển khai Chỉ số CCHC cũng đặt ra yêu cầu rà soát toàn diện từ thể chế, tổ chức bộ máy, công vụ, tài chính đến chuyển đổi số và quản trị dữ liệu.
Kế hoạch Cải cách hành chính giai đoạn 2026–2030 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, những yêu cầu đặt ra và nhiệm vụ trọng tâm của Cục Viễn thám quốc gia

Kế hoạch Cải cách hành chính giai đoạn 2026–2030 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, những yêu cầu đặt ra và nhiệm vụ trọng tâm của Cục Viễn thám quốc gia

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Kế hoạch cải cách hành chính trọng tâm giai đoạn 2026–2030 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường (Quyết định số 3185/QĐ-BNNMT). Đây là văn bản có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng và tổ chức thực hiện công tác cải cách hành chính của Bộ trong giai đoạn mới, với yêu cầu tiếp tục xây dựng nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Kế hoạch không chỉ đặt ra yêu cầu cải cách đối với các cơ quan tham mưu, quản lý chung của Bộ mà được triển khai thống nhất đến các đơn vị trực thuộc, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực quản lý của từng đơn vị. Vì vậy, đối với Cục Viễn thám quốc gia, việc triển khai Quyết định số 3185/QĐ-BNNMT cần được xác định là một nhiệm vụ thường xuyên, gắn trực tiếp với việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về viễn thám, đồng thời phải đặc biệt quan tâm đến các tiêu chí, nội dung có liên quan đến đánh giá, chấm điểm cải cách hành chính của Bộ.