Sign In

Tổ chức lại không gian phát triển quốc gia, khơi thông nguồn lực cho giai đoạn phát triển mới

16:16 07/09/2026

Chọn cỡ chữ A a  

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy chiến lược về tổ chức lãnh thổ và mô hình tăng trưởng của đất nước. Không chỉ tiếp tục định hướng phát triển 6 vùng kinh tế - xã hội, Nghị quyết đặt yêu cầu tái cấu trúc không gian phát triển theo hướng đa tầng, đa cực, liên kết chặt chẽ giữa các vùng, các cực tăng trưởng, hành lang kinh tế và các trung tâm đô thị; đồng thời mở rộng không gian phát triển sang không gian biển, vùng trời, không gian ngầm, không gian số và các không gian phát triển mới. Những nội dung được đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, trình bày tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị ngày 3/9/2026 đã làm rõ hơn những nội dung trọng tâm, cốt lõi và yêu cầu tổ chức thực hiện Nghị quyết trong giai đoạn mới.

Nghị quyết 27-NQ/TW được ban hành trong bối cảnh đất nước bước vào một giai đoạn phát triển với những yêu cầu mới về mô hình tăng trưởng, năng lực cạnh tranh, kết nối hạ tầng, chuyển đổi số, khoa học - công nghệ, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Sau hơn 3 năm thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị khóa XIII về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại 6 vùng kinh tế - xã hội, nhận thức về vai trò của phát triển vùng đã được nâng lên; liên kết vùng có chuyển biến và nhiều tiềm năng, lợi thế của các địa phương từng bước được khai thác. Tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Phát triển các vùng chưa đạt đầy đủ mục tiêu đề ra; các nguồn lực xã hội chưa được khơi thông và phát huy hiệu quả; quy hoạch còn chồng lấn, thiếu đồng bộ và thiếu liên kết; kết cấu hạ tầng vẫn là điểm nghẽn; các hành lang kinh tế, cụm liên kết ngành phát triển chậm; một số đô thị lớn và cực tăng trưởng chưa phát huy đầy đủ vai trò hạt nhân, dẫn dắt, lan tỏa; liên kết giữa các địa phương và giữa các vùng chưa thực sự hiệu quả. 

Trong khi đó, quá trình sắp xếp đơn vị hành chính và thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đang tạo ra những không gian phát triển mới, đòi hỏi phải có cách tiếp cận phù hợp hơn trong tổ chức lãnh thổ. Phát triển không thể tiếp tục chủ yếu được nhìn nhận trong phạm vi từng địa phương mà cần được đặt trong mối quan hệ hữu cơ giữa địa phương, tiểu vùng, vùng và cả nước. Từ yêu cầu đó, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 27-NQ/TW nhằm phát huy hơn nữa tiềm năng, lợi thế của từng vùng, thúc đẩy liên kết, khai thác hiệu quả không gian phát triển mới và bảo đảm các địa phương, các vùng cũng như cả nước được kết nối chặt chẽ, thông suốt. Nghị quyết đồng thời thay thế 6 nghị quyết của Bộ Chính trị khóa XIII về phát triển 6 vùng kinh tế - xã hội, tạo một khuôn khổ thống nhất để triển khai chủ trương phát triển vùng trong điều kiện mới. 

Phát triển vùng là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia

Một trong những điểm cốt lõi của Nghị quyết 27-NQ/TW là sự thay đổi trong nhận thức về vị trí của phát triển vùng. Bộ Chính trị xác định phát triển vùng là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, tổ chức lại không gian phát triển, phân bổ nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh mới. Đây là quan điểm có ý nghĩa xuyên suốt, bởi nếu mỗi địa phương chỉ tập trung khai thác lợi thế riêng mà thiếu sự phối hợp, sẽ dễ dẫn tới cạnh tranh nguồn lực, đầu tư trùng lặp, phát triển dàn trải và không tạo được sức mạnh tổng hợp. Ngược lại, khi mỗi vùng xác định rõ vị trí, chức năng, lợi thế, bản sắc và sứ mệnh phát triển của mình trong tổng thể quốc gia, các nguồn lực có thể được phân bổ hợp lý hơn, tạo ra sự bổ trợ và lan tỏa thay vì chia cắt.

Từ quan điểm đó, Nghị quyết yêu cầu đổi mới mạnh mẽ mô hình phát triển, mô hình tăng trưởng; chuyển từ chủ yếu dựa vào nguồn lực sẵn có sang kiến tạo, dẫn dắt, khơi thông và kích hoạt mọi nguồn lực. Nội lực tiếp tục là yếu tố cơ bản, chiến lược, lâu dài và quyết định, đồng thời kết hợp hiệu quả với ngoại lực để bảo đảm phát triển nhanh, bền vững, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và có sức chống chịu cao. Phát triển vùng vì thế không chỉ là câu chuyện tăng trưởng kinh tế mà còn là phương thức huy động và tổ chức các nguồn lực của đất nước trong một cấu trúc phát triển thống nhất.

Nghị quyết đồng thời đặt ra yêu cầu tổ chức lại không gian phát triển quốc gia trên cơ sở phát huy sự liên kết, bổ trợ và lan tỏa giữa các vùng động lực, cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, chuỗi đô thị và các trung tâm kinh tế. Không gian phát triển được mở rộng theo hướng đa tầng, đa cực, gắn kết đất liền với biển, vùng trời, không gian ngầm, không gian số và những không gian phát triển mới. Cùng với phát triển kinh tế, phải bảo đảm giới hạn sinh thái, khả năng chịu tải của môi trường, khắc phục tư duy cục bộ, phát triển dàn trải và trùng lặp. Đặc biệt, Nghị quyết xác định xây dựng cơ chế liên kết, điều phối vùng thực sự mạnh, thực chất, hiệu quả là một khâu đột phá, bảo đảm sự đồng bộ, liên thông trong quy hoạch, đầu tư, hạ tầng, dữ liệu và phân bổ nguồn lực. 

Sáu vùng – sáu không gian động lực trong tổng thể phát triển đất nước

Trên nền tảng những quan điểm đó, Nghị quyết đặt mục tiêu tái cấu trúc, quản lý và khai thác hiệu quả không gian phát triển vùng đồng bộ với không gian phát triển quốc gia; phát huy tối đa ưu điểm nổi trội, lợi thế cạnh tranh và bản sắc văn hóa của từng vùng, từng địa phương; phát huy vai trò đi đầu, dẫn dắt, lan tỏa của các vùng động lực, hành lang kinh tế và cực tăng trưởng. Đồng thời, phát triển vùng phải bảo đảm tự chủ chiến lược, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, củng cố quốc phòng, an ninh và giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. 

Nghị quyết xác định 22 chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030 cho 6 vùng kinh tế - xã hội. Các chỉ tiêu được xây dựng phù hợp với tiềm năng, lợi thế so sánh và thực tiễn phát triển của từng vùng, không chỉ tập trung vào tốc độ tăng trưởng mà còn bao quát năng suất lao động, cơ cấu kinh tế, đô thị hóa, thu nhập, giảm nghèo, giáo dục, y tế, môi trường và các chỉ tiêu xã hội. Cách tiếp cận này cho thấy yêu cầu phát triển vùng phải toàn diện, trong đó tăng trưởng kinh tế gắn với nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh, bảo vệ môi trường và củng cố quốc phòng, an ninh. 

Theo định hướng của Nghị quyết, Vùng Trung du và miền núi phía Bắc phát triển theo hướng xanh, bền vững, phát huy thế mạnh về khoáng sản, năng lượng, kinh tế cửa khẩu, nông nghiệp đặc trưng, lâm nghiệp và du lịch; tăng cường kết nối với vùng đồng bằng sông Hồng và các hành lang kinh tế. Vùng đồng bằng sông Hồng tiếp tục được định hướng trở thành trung tâm lớn về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghiệp, dịch vụ, logistics, tài chính, giáo dục và đào tạo, với vùng đô thị Hà Nội là một cực tăng trưởng quan trọng. Vùng Bắc Trung Bộ phát huy lợi thế về công nghiệp, kinh tế biển, logistics, du lịch và các tuyến kết nối Bắc - Nam, Đông - Tây. Vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên gắn phát triển kinh tế biển với nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng, du lịch và tăng cường kết nối với các trung tâm kinh tế lớn. Vùng Đông Nam Bộ tiếp tục giữ vai trò vùng động lực tăng trưởng lớn, tập trung vào công nghiệp công nghệ cao, logistics, tài chính, thương mại và các dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Vùng đồng bằng sông Cửu Long phát triển theo hướng sinh thái, tuần hoàn, thích ứng với biến đổi khí hậu, phát huy lợi thế về nông nghiệp, thủy sản, kinh tế biển và dịch vụ. 

Phụ lục 02 của Nghị quyết đã cụ thể hóa định hướng phát triển các hành lang kinh tế, vùng động lực, ngành, lĩnh vực ưu tiên và các công trình, dự án giao thông trọng điểm. Các hành lang kinh tế được nhìn nhận không chỉ là những tuyến giao thông mà phải trở thành các trục tổ chức không gian kinh tế, kết nối trung tâm kinh tế, đô thị, cảng biển, khu công nghiệp và các chuỗi giá trị. Nghị quyết định hướng ưu tiên phát triển các hành lang kết nối các vùng động lực và các đô thị lớn; từng bước hình thành và phát triển các hành lang kinh tế trong nước gắn với hành lang kinh tế khu vực và quốc tế. 

Hạ tầng và dữ liệu tạo nền tảng cho không gian phát triển mới

Nếu liên kết vùng là yêu cầu xuyên suốt thì hạ tầng là điều kiện vật chất để hiện thực hóa liên kết. Nghị quyết 27-NQ/TW yêu cầu tập trung nguồn lực phát triển hạ tầng chiến lược, hạ tầng số, hạ tầng công nghệ, hạ tầng phục vụ chuyển đổi xanh và chuyển đổi năng lượng; tổ chức thống nhất các loại hình hạ tầng theo hành lang kinh tế và không gian phát triển vùng. Hạ tầng giao thông phải được kết nối với năng lượng, logistics và đô thị, tạo điều kiện phát triển vận tải đa phương thức, giảm chi phí vận tải và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Các tuyến giao thông trục xương sống Bắc - Nam, các hành lang Đông - Tây thế hệ mới và những công trình, dự án có tính liên vùng, lan tỏa được xác định là những ưu tiên quan trọng. 

Tuy nhiên, không gian phát triển mới không chỉ được cấu thành bởi đường bộ, đường sắt, cảng biển, đô thị hay các khu công nghiệp. Dữ liệu và hạ tầng số đang trở thành một bộ phận ngày càng quan trọng của hạ tầng phát triển quốc gia. Nghị quyết yêu cầu phát triển kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; khai thác hiệu quả hạ tầng số, tài nguyên số, không gian số, cơ sở dữ liệu lớn; phát triển các trung tâm dữ liệu quốc gia gắn với vùng động lực, cực tăng trưởng và khẩn trương hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu, nền tảng số dùng chung. 

Đây cũng là nền tảng để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực chủ yếu của mô hình tăng trưởng mới. Nghị quyết yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, các trung tâm nghiên cứu - phát triển, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung; hình thành chuỗi liên kết giữa khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và khu công nghệ số; đồng thời phát triển, khai thác hiệu quả hạ tầng số, tài nguyên số, cơ sở dữ liệu lớn và kinh tế dữ liệu. 

Trong cấu trúc hạ tầng dữ liệu đó, viễn thám có thể đóng vai trò là một nguồn dữ liệu không gian quan trọng phục vụ nhận diện, theo dõi và đánh giá sự biến động của không gian phát triển. Với khả năng quan sát diện rộng, lặp lại theo thời gian và cung cấp thông tin khách quan về bề mặt Trái đất, dữ liệu viễn thám có thể được tích hợp với dữ liệu địa lý, dữ liệu thống kê và dữ liệu chuyên ngành để hỗ trợ theo dõi sử dụng đất, phát triển đô thị, hạ tầng, rừng, nông nghiệp, nguồn nước, vùng ven biển, môi trường, thiên tai và biến đổi khí hậu. Đây là hướng ứng dụng phù hợp với yêu cầu của Nghị quyết về phát triển dữ liệu, chuyển đổi số, quản lý tài nguyên và xây dựng hệ thống dữ liệu môi trường đồng bộ, hiện đại, thống nhất và chia sẻ. 

Viễn thám góp phần nâng cao năng lực quản trị không gian phát triển

Điểm đáng chú ý của Nghị quyết 27-NQ/TW là yêu cầu quản lý không gian phát triển ngày càng phải dựa trên thông tin, dữ liệu và khả năng giám sát thực tiễn. Quy hoạch xác định định hướng phát triển, nhưng để đánh giá quy hoạch được triển khai như thế nào trên thực địa, cần có những công cụ quan sát và đo lường khách quan, liên tục. Đây là lĩnh vực mà viễn thám có nhiều lợi thế.

Đối với tổ chức không gian các vùng, dữ liệu viễn thám có thể hỗ trợ theo dõi biến động không gian đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, hạ tầng giao thông, vùng sản xuất nông nghiệp, rừng và mặt nước; giám sát sự thay đổi của các hành lang phát triển và khu vực ven biển; cung cấp thông tin phục vụ đánh giá hiện trạng và xu hướng sử dụng đất. Khi kết hợp với hệ thống thông tin địa lý và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành, dữ liệu viễn thám có thể góp phần hình thành các bộ chỉ số và sản phẩm giám sát phục vụ quản lý, điều phối và đánh giá thực hiện quy hoạch vùng.

Đặc biệt, đối với nhiệm vụ bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu, Nghị quyết yêu cầu xây dựng hệ thống dữ liệu môi trường các vùng, kết nối với hệ thống quan trắc và giám sát môi trường quốc gia; kiểm soát các vấn đề sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn, bảo đảm an ninh nguồn nước; đồng thời tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong phòng, chống thiên tai. Những yêu cầu này tạo điều kiện để phát huy thế mạnh của viễn thám trong giám sát các hiện tượng có phạm vi rộng và biến động nhanh, bổ trợ cho dữ liệu quan trắc tại mặt đất.

Từ yêu cầu đó, Cục Viễn thám quốc gia có thể xác định việc triển khai Nghị quyết 27-NQ/TW là một định hướng quan trọng để nâng cao giá trị sử dụng của dữ liệu và công nghệ viễn thám trong quản lý nhà nước về nông nghiệp và môi trường. Trọng tâm trước hết là tiếp tục hoàn thiện năng lực quản lý nhà nước về viễn thám; xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia; tăng cường năng lực thu nhận, xử lý, lưu trữ và chia sẻ dữ liệu; chuẩn hóa dữ liệu và thúc đẩy kết nối với các cơ sở dữ liệu không gian, tài nguyên, môi trường và các hệ thống dữ liệu chuyên ngành.

Cùng với đó, Cục cần tập trung phát triển các sản phẩm viễn thám phục vụ trực tiếp các bài toán quản lý liên vùng, chuyển mạnh từ cung cấp dữ liệu ảnh đơn thuần sang cung cấp thông tin, chỉ số và sản phẩm phân tích có giá trị sử dụng cao. Có thể ưu tiên các nhóm nhiệm vụ như giám sát biến động sử dụng đất; theo dõi phát triển đô thị và hạ tầng; giám sát rừng, nông nghiệp, tài nguyên nước và vùng ven biển; theo dõi sạt lở, sụt lún, ngập lụt, hạn hán, xâm nhập mặn; giám sát môi trường và đa dạng sinh học. Đặc biệt, cần nghiên cứu các hệ thống giám sát chuyên đề đối với vùng động lực, cực tăng trưởng và hành lang kinh tế, qua đó góp phần cung cấp nguồn thông tin khách quan phục vụ quy hoạch và điều phối phát triển.

Một hướng quan trọng khác là đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo, học máy, phân tích dữ liệu lớn và điện toán hiện đại trong xử lý dữ liệu viễn thám. Khi khối lượng dữ liệu vệ tinh ngày càng lớn, việc tự động hóa nhận dạng đối tượng, phát hiện biến động, phân tích chuỗi thời gian và xây dựng các chỉ số giám sát sẽ nâng cao đáng kể khả năng cung cấp thông tin kịp thời cho cơ quan quản lý. Đây là hướng phù hợp với yêu cầu của Nghị quyết về lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính của tăng trưởng và phát triển. 

Quan trọng hơn, viễn thám cần được đặt trong hệ sinh thái dữ liệu chung của ngành và của quốc gia. Dữ liệu viễn thám chỉ phát huy đầy đủ giá trị khi được tích hợp với dữ liệu địa lý, đất đai, tài nguyên, môi trường, khí tượng thủy văn, nông nghiệp, biển và các nguồn dữ liệu khác. Vì vậy, nhiệm vụ của Cục không chỉ là phát triển công nghệ và dữ liệu chuyên ngành mà còn phải thúc đẩy chuẩn hóa, liên thông, chia sẻ và khai thác dữ liệu, góp phần hình thành nền tảng thông tin phục vụ quản trị không gian phát triển.

Phát triển nhanh nhưng phải bền vững, hài hòa và có sức chống chịu cao

Nghị quyết 27-NQ/TW đặt phát triển kinh tế trong mối quan hệ chặt chẽ với văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Phát triển các vùng phải đồng thời bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa, nâng cao chất lượng y tế, giáo dục, an sinh xã hội; bảo vệ tài nguyên, môi trường, đa dạng sinh học; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; bảo đảm quốc phòng, an ninh và giữ vững chủ quyền quốc gia. 

Đây là một cách tiếp cận toàn diện, trong đó không gian phát triển phải được đặt trong giới hạn sinh thái và khả năng chịu tải của môi trường. Đối với một quốc gia chịu tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu, thiên tai và suy thoái tài nguyên, yêu cầu này có ý nghĩa đặc biệt. Tăng trưởng không thể đánh đổi bằng suy thoái môi trường; đầu tư hạ tầng phải tính đến khả năng chống chịu; khai thác tài nguyên phải gắn với bảo vệ và phục hồi; phát triển đô thị phải đi cùng bảo đảm hạ tầng xã hội và chất lượng sống của người dân.

Tầm nhìn đến năm 2045 được Nghị quyết xác định là các vùng phát triển và vận hành theo phương thức của kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế dữ liệu và kinh tế tuần hoàn; có kết cấu hạ tầng đồng bộ, thông minh, xanh, an toàn, có khả năng chống chịu cao; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính của tăng trưởng; liên kết giữa các địa phương trong vùng và giữa các vùng ngày càng chặt chẽ; môi trường sinh thái bền vững; quốc phòng, an ninh hiện đại, tự chủ, tự cường, vững mạnh; người dân được hưởng thụ các dịch vụ xã hội chất lượng cao. Mục tiêu cuối cùng là góp phần đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. 

Biến tư duy mới thành hành động cụ thể

Nghị quyết 27-NQ/TW đặt ra một yêu cầu lớn đối với toàn bộ hệ thống chính trị: từ thay đổi nhận thức phải chuyển sang thay đổi phương thức tổ chức và hành động phát triển. Liên kết vùng phải trở thành liên kết thực chất; quy hoạch phải trở thành công cụ pháp lý và công cụ điều phối; đầu tư phải hướng tới tạo sức lan tỏa; các cực tăng trưởng phải thực sự dẫn dắt; các địa phương phải vừa phát huy tính chủ động, vừa đặt lợi ích của mình trong lợi ích chung của vùng và quốc gia.

Nghị quyết yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tổ chức và phương thức hoạt động của Hội đồng điều phối vùng; hoàn thiện cơ chế phối hợp, điều phối và huy động nguồn lực; tạo cơ chế chia sẻ nguồn lực và lợi ích giữa quốc gia, vùng và địa phương theo nguyên tắc cùng phát triển. Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với đặc điểm từng vùng, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm và địa phương chịu trách nhiệm”. Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phải được tăng cường, gắn với yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị và lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo. 

Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị chuyên môn, tinh thần đó đòi hỏi phải xác định rõ nhiệm vụ của mình trong cấu trúc phát triển mới. Với Cục Viễn thám quốc gia, trọng tâm không phải là mở rộng viễn thám một cách đơn lẻ, mà là đưa dữ liệu và công nghệ viễn thám tham gia sâu hơn vào những bài toán quản lý mà Nghị quyết 27-NQ/TW đặt ra. Đó là quản lý và tổ chức không gian phát triển; theo dõi biến động tài nguyên, đất đai và môi trường; giám sát nông nghiệp, lâm nghiệp, biển và vùng ven biển; hỗ trợ ứng phó thiên tai, biến đổi khí hậu; phát triển cơ sở dữ liệu và chuyển đổi số; cung cấp thông tin phục vụ quy hoạch và quản trị phát triển vùng.

Có thể hướng tới xây dựng từng bước hệ thống giám sát không gian phát triển bằng công nghệ viễn thám, trong đó dữ liệu vệ tinh được thu nhận, xử lý và chuẩn hóa; kết hợp với dữ liệu địa lý và dữ liệu chuyên ngành; ứng dụng trí tuệ nhân tạo để phát hiện, phân tích biến động; kết quả được chuyển hóa thành bản đồ, chỉ số, thông tin cảnh báo và các sản phẩm hỗ trợ ra quyết định. Khi đó, viễn thám không chỉ cung cấp hình ảnh về hiện trạng mà có thể trở thành một công cụ hỗ trợ theo dõi quá trình phát triển theo không gian và thời gian, góp phần nâng cao năng lực quản trị dựa trên dữ liệu.

Nghị quyết 27-NQ/TW mở ra một tầm nhìn mới về không gian phát triển của đất nước. Đó là không gian được tổ chức lại theo hướng đa tầng, đa cực, liên kết và bổ trợ; trong đó mỗi vùng có một vị trí, vai trò và lợi thế riêng nhưng cùng nằm trong một cấu trúc phát triển thống nhất. Hạ tầng, dữ liệu, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành những nền tảng ngày càng quan trọng; các vùng động lực, cực tăng trưởng và hành lang kinh tế trở thành những đầu tàu tạo sức lan tỏa; phát triển kinh tế gắn chặt với bảo đảm xã hội, môi trường, quốc phòng và an ninh.

Từ góc nhìn đó, tổ chức lại không gian phát triển quốc gia cũng chính là tổ chức lại cách thức huy động và sử dụng các nguồn lực của đất nước. Khi quy hoạch được kết nối, hạ tầng được đồng bộ, dữ liệu được chia sẻ, các vùng được điều phối thực chất và mỗi địa phương phát huy đúng lợi thế của mình, những không gian phát triển mới sẽ được mở rộng và các nguồn lực tiềm tàng sẽ có điều kiện được khơi thông. Trong quá trình ấy, viễn thám với khả năng cung cấp dữ liệu không gian diện rộng, cập nhật và khách quan có thể trở thành một thành phần quan trọng của hạ tầng dữ liệu phục vụ quản trị tài nguyên, môi trường và không gian phát triển.

Thực hiện tốt Nghị quyết 27-NQ/TW vì vậy không chỉ là nhiệm vụ của một ngành, một vùng hay một địa phương, mà là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị. Với tinh thần đổi mới tư duy, tăng cường liên kết, khơi thông nguồn lực và lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực, Nghị quyết tạo nền tảng để đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới, trong đó mỗi vùng phát huy tối đa lợi thế, mỗi cực tăng trưởng tạo sức lan tỏa, mỗi hành lang kinh tế trở thành trục kết nối và toàn bộ không gian quốc gia được vận hành như một chỉnh thể thống nhất, năng động, xanh, hiện đại và có sức chống chịu cao. 

Văn phòng Cục Viễn thám quốc gia

Ý kiến

Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ động nâng cao năng lực bảo vệ an ninh mạng, bảo đảm an toàn cho hệ thống dữ liệu ngành

Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ động nâng cao năng lực bảo vệ an ninh mạng, bảo đảm an toàn cho hệ thống dữ liệu ngành

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 3355/QĐ-NNMT về việc Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án “Nâng cao năng lực hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng quốc gia” của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Đây là bước cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ của Đề án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 515/QĐ-TTg ngày 30/3/2026, đồng thời đặt ra những yêu cầu cụ thể nhằm củng cố năng lực bảo vệ không gian mạng trong toàn Bộ, nhất là đối với các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quan trọng phục vụ quản lý nhà nước.
Thi đua, khen thưởng trong ngành Nông nghiệp và Môi trường: Đề cao cống hiến, đổi mới và hiệu quả thực chất

Thi đua, khen thưởng trong ngành Nông nghiệp và Môi trường: Đề cao cống hiến, đổi mới và hiệu quả thực chất

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Thông tư số 34/2026/TT-BNNMT ngày 14/8/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng trong ngành Nông nghiệp và Môi trường. Thông tư là văn bản quan trọng nhằm cụ thể hóa các quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng, đồng thời thiết lập những tiêu chí, danh hiệu và quy trình phù hợp với đặc điểm tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và phạm vi hoạt động rộng lớn của ngành Nông nghiệp và Môi trường.
Đo lường để cải cách thực chất: Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Chỉ số cải cách hành chính (CCHC) áp dụng thống nhất cho các đơn vị trực thuộc

Đo lường để cải cách thực chất: Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Chỉ số cải cách hành chính (CCHC) áp dụng thống nhất cho các đơn vị trực thuộc

Một hệ thống đánh giá CCHC thống nhất, định lượng và minh bạch đang được Bộ Nông nghiệp và Môi trường thiết lập cho toàn bộ các đơn vị hành chính trực thuộc. Với 41 tiêu chí, 74 tiêu chí thành phần, cơ chế tự đánh giá gắn với tài liệu kiểm chứng và thẩm định độc lập, Chỉ số cải cách hành chính sẽ trở thành một công cụ quản trị quan trọng, qua đó chuyển trọng tâm từ “thực hiện nhiệm vụ” sang “đo lường kết quả và trách nhiệm”. Đối với Cục Viễn thám quốc gia, việc triển khai Chỉ số CCHC cũng đặt ra yêu cầu rà soát toàn diện từ thể chế, tổ chức bộ máy, công vụ, tài chính đến chuyển đổi số và quản trị dữ liệu.