PV: Thưa ông, ông đánh giá như thế nào về những kết quả trọng tâm mà Cục Viễn thám quốc gia đã đạt được trong 11 tháng đầu năm 2025?Cục trưởng Trần Tuấn Ngọc:Năm 2025 là năm có khối lượng nhiệm vụ rất lớn, yêu cầu cao và đa dạng khi ngành viễn thám vừa thực hiện công việc thường xuyên, vừa triển khai những nhiệm vụ đột phá theo chỉ đạo của Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Tuy nhiên, với sự nỗ lực của toàn hệ thống, Cục đã hoàn thành nhiều nhiệm vụ quan trọng.Về thể chế, Cục đã hoàn thiện hồ sơ trình Chính phủ ban hành Nghị định thay thế Nghị định 03/2019/NĐ-CP - một văn bản có ý nghĩa tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, hiện đại để thống nhất quản lý hoạt động viễn thám. Cùng với đó, Cục đã trình Bộ KH&CN công bố 3 Tiêu chuẩn quốc gia mới, hoàn thiện dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về bản đồ chất lượng không khí, đồng thời xây dựng kế hoạch phát triển 9 quy chuẩn kỹ thuật cho giai đoạn 2026–2030. Những bước đi này góp phần chuẩn hóa hoạt động kỹ thuật trong toàn lĩnh vực.Công tác tiếp công dân, giải quyết phản ánh, kiến nghị cũng được thực hiện nghiêm túc. Cục không có đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến hoạt động của đơn vị; mọi yêu cầu của người dân và doanh nghiệp được xử lý đầy đủ qua nhiều phương thức. Đặc biệt, Cục đã cung cấp nhiều bộ dữ liệu phục vụ công tác tư pháp, hỗ trợ địa phương giải quyết các vấn đề liên quan đến đất đai, môi trường và tranh chấp.Trong phân cấp, phân quyền, Cục đã chủ động rà soát, đề xuất sửa đổi Luật Đo đạc và Bản đồ 2018 và Nghị định 03, theo hướng trao quyền chủ động nhiều hơn cho địa phương trong khai thác, ứng dụng dữ liệu viễn thám – điều rất cần thiết trong chuyển đổi số ngành tài nguyên và môi trường.Một dấu ấn quan trọng là việc vận hành Cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia. Cục đã vận hành hiệu quả ba trạm thu vệ tinh VNREDSat-1, SPOT6 và KOMPSAT-3A, bảo đảm dữ liệu được cập nhật liên tục, an toàn và chia sẻ qua hệ thống dulieuvientham.gov.vn. Đến tháng 10, Cục đã tiếp nhận 41 hồ sơ dịch vụ công, giải quyết 38 hồ sơ và ký 25 hợp đồng cung cấp dữ liệu phục vụ giám sát rừng, đất lúa, cảnh báo thiên tai, môi trường và quốc phòng. Hiện Cục đang phối hợp với Bộ Công an và Cục Chuyển đổi số để kết nối dữ liệu với Cơ sở dữ liệu quốc gia phục vụ chia sẻ dữ liệu dùng chung theo Nghị quyết 71/NQ-CP.Trong giám sát nhanh và giám sát thường xuyên, Cục tiếp tục triển khai hiệu quả nhiều nhiệm vụ, điển hình như giám sát tài nguyên nước xuyên biên giới, giám sát đất ngập nước, rừng đặc dụng, thông số hải dương học. Hệ thống Sentinel Asia đã được kích hoạt 5 lần trong năm để giám sát ngập lụt tại Thái Nguyên, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa và Quảng Trị, giúp cung cấp thông tin kịp thời phục vụ chỉ đạo ứng phó thiên tai.Về chuyên môn, nhiều dự án chuyển tiếp đạt tiến độ cao: giám sát sử dụng đất (99%), biến động dân cư - hạ tầng biên giới (69%), tràn dầu (70%), ô nhiễm không khí xuyên biên giới (66,2%)... Các nhiệm vụ mở mới như đánh giá tác động kênh đào Phù Nam - Techo đến đồng bằng sông Cửu Long đã được phê duyệt và đang thực hiện thủ tục.Về hợp tác quốc tế, Cục đang phối hợp với Ấn Độ triển khai dự án xây dựng Trạm thu và Trung tâm xử lý dữ liệu vệ tinh ASEAN tại Bình Dương với thời gian điều chỉnh đến 2027. Đồng thời, dự án Phi hợp tác với Italia về hệ thống GIS giám sát rủi ro khí hậu - môi trường cũng đang được đề nghị gia hạn đến tháng 12/2027.PV: Một trong những kết quả nổi bật năm nay là việc vận hành và phát triển Cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia. Ông có thể chia sẻ rõ hơn về vai trò và giá trị của hệ thống dữ liệu này?Cục trưởng Trần Tuấn Ngọc: Cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia là hạ tầng trọng yếu, đóng vai trò trung tâm trong toàn bộ hệ sinh thái dữ liệu ngành. Đây là nơi thu nhận, lưu trữ và chia sẻ dữ liệu từ 16 loại đầu thu, gồm VNREDSat-1, SPOT6, KOMPSAT-3A, WorldView, Landsat và tới đây là ảnh radar CosmoSkymed. Hiện hệ thống đã lưu trữ gần 100.000 cảnh ảnh vệ tinh với độ phân giải từ siêu cao 0,55m đến trung bình 30m, phủ trùm toàn lãnh thổ, vùng biển và hải đảo Việt Nam. Mỗi năm dữ liệu tăng trưởng khoảng 20%.Nguồn dữ liệu đồ sộ này đang phục vụ trực tiếp cho nhiều bài toán lớn: giám sát đất đai, rừng, nông nghiệp; cảnh báo thiên tai; quan trắc sụt lún ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đồng bằng sông Cửu Long; giám sát nước mặt và dòng chảy lưu vực sông Mê Công và sông Hồng; đánh giá chất lượng nước biển, vùng bờ; tính toán phát thải khí nhà kính theo hướng dẫn IPCC. Dữ liệu viễn thám đang là đầu vào quan trọng trong triển khai Net Zero và thị trường carbon.Cơ sở dữ liệu đạt tiêu chí “đúng - đủ - sạch - sống - thống nhất - dùng chung” sẽ giúp Nhà nước chỉ đạo điều hành chính xác hơn và giúp doanh nghiệp, tổ chức khai thác hiệu quả hơn, giảm chi phí và tăng tính chủ động.PV: Các ứng dụng giám sát bằng viễn thám trong nông nghiệp, tài nguyên, môi trường và ứng phó thiên tai được đánh giá ngày càng hiệu quả. Ông nhìn nhận như thế nào về giá trị thực tiễn của các ứng dụng này?Cục trưởng Trần Tuấn Ngọc: Có thể nói, hiệu quả ứng dụng viễn thám trong thực tiễn ngày càng rõ nét. Năm 2024-2025, nhiều nhiệm vụ ứng dụng đã chứng minh giá trị lớn. Với giám sát nông nghiệp, viễn thám được dùng để xác định diện tích vùng trồng, theo dõi sinh trưởng, dự báo năng suất, đặc biệt tại các vùng trồng chủ lực. Đây là cơ sở quan trọng cho quản lý vùng nguyên liệu, hoạch định xuất khẩu.Trong tài nguyên - môi trường, viễn thám giúp giám sát biến động rừng, hỗ trợ kiểm kê rừng toàn quốc; theo dõi biến động đất đai; giám sát chất lượng môi trường không khí, môi trường nước. Đặc biệt, công nghệ đo cao vệ tinh giúp theo dõi mực nước hồ chứa, tạo dữ liệu phục vụ cảnh báo lũ - hạn, điều tiết nguồn nước vùng sông Hồng và Mê Công.Trong phòng chống thiên tai, năm 2024, hệ thống Sentinel Asia được kích hoạt liên tục để giám sát ngập lụt ở nhiều tỉnh, dữ liệu được bàn giao nhanh cho Trung tâm Dự báo KTTV Quốc gia, giúp nâng cao khả năng ứng phó. Tại vùng biển đảo, viễn thám góp phần xây dựng bản đồ địa hình tỷ lệ lớn ở Trường Sa - Hoàng Sa phục vụ phát triển kinh tế biển và bảo đảm quốc phòng - an ninh.Rõ ràng, viễn thám không còn là công nghệ dự phòng, mà đã trở thành công cụ không thể thiếu trong quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xanh.PV: Thưa ông, giai đoạn 2025-2030 được đánh giá là bước ngoặt để Việt Nam làm chủ công nghệ viễn thám. Cục Viễn thám quốc gia sẽ tập trung vào những nhiệm vụ chiến lược nào?Cục trưởng Trần Tuấn Ngọc: Giai đoạn 2025-2030, chúng tôi xác định đây là thời điểm quan trọng để Việt Nam chuyển từ “người sử dụng dữ liệu” sang “chủ động làm chủ công nghệ viễn thám”. Trước hết, Cục sẽ tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng Luật Viễn thám, hoàn thiện Nghị định mới thay thế Nghị định 03/2019/NĐ-CP, hệ thống hóa tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, bảo đảm đồng bộ, hiện đại và tiệm cận quốc tế.Thứ hai, chúng tôi tập trung nâng cấp hạ tầng kỹ thuật: phóng chùm vệ tinh quang học và radar độ phân giải cao trước 2030; mở rộng trạm thu; hoàn thiện hạ tầng dữ liệu lớn; bảo đảm an toàn thông tin cấp độ cao; kết nối dữ liệu quốc gia vào cuối năm 2025.Thứ ba, Cục sẽ đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và mô hình học máy vào các bài toán giám sát gần thời gian thực. Viễn thám kết hợp AI sẽ hỗ trợ dự báo lũ, hạn hán, xâm nhập mặn, giám sát carbon, phục vụ thị trường carbon, giám sát rừng, đất đai, nông nghiệp số và bảo vệ môi trường.Thứ tư, chúng tôi kiến nghị Bộ tăng cơ chế hỗ trợ đầu tư cho hạ tầng vệ tinh, dữ liệu và xử lý AI; đồng thời bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao cho Cục.Cuối cùng, Cục sẽ mở rộng hợp tác quốc tế, thúc đẩy các dự án ASEAN - Ấn Độ và Italia, đồng thời tăng cường hợp tác với Mỹ, Nhật Bản và châu Âu, đặc biệt trong theo dõi vật thể quỹ đạo, quản lý không gian. Đây là lĩnh vực sẽ ngày càng quan trọng trong tương lai.PV: Trân trọng cảm ơn Cục trưởng!