Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Quyết định số 3468/QĐ-BNNMT về việc ban hành Chỉ số cải cách hành chính của các đơn vị hành chính trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Quyết định được xây dựng trên cơ sở Nghị định số 35/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ; Quyết định số 1187/QĐ-BNV của Bộ Nội vụ về xác định Chỉ số cải cách hành chính; Kế hoạch của Đảng ủy Bộ triển khai Chỉ thị số 53-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo đối với trách nhiệm giải trình trong hoạt động công vụ và Kế hoạch cải cách hành chính năm 2026 của Bộ. Đây là cơ sở để hình thành một cơ chế theo dõi, đánh giá CCHC thống nhất đối với các Cục, Vụ và Văn phòng Bộ. Điểm đáng chú ý nhất của Quyết định 3468/QĐ-BNNMT là lần đầu tiên công tác đánh giá CCHC tại các đơn vị hành chính trực thuộc Bộ được đặt trong một khung tiêu chí định lượng tương đối toàn diện và thống nhất. Mục tiêu của Bộ không chỉ là xác định một con số để xếp hạng, mà là “theo dõi, đánh giá thực chất và khách quan, minh bạch” kết quả CCHC hằng năm của từng đơn vị; đồng thời xây dựng các tiêu chí, thang điểm và phương pháp đánh giá cụ thể để tạo cơ sở xác định Chỉ số CCHC của từng cơ quan, đơn vị. Chỉ số phải vừa bám sát Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021-2030, vừa phù hợp với chức năng, nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị và tăng cường sự tham gia đánh giá của tổ chức, cá nhân, nhất là trong giải quyết thủ tục hành chính. Theo Quyết định, hệ thống đánh giá gồm 07 nhóm nội dung CCHC và 01 nhóm điểm cộng, điểm trừ, với tổng cộng 41 tiêu chí và 74 tiêu chí thành phần. Các nhóm bao gồm: công tác chỉ đạo, điều hành CCHC; cải cách thể chế; cải cách thủ tục hành chính; cải cách tổ chức bộ máy; cải cách chế độ công vụ; cải cách tài chính công; chuyển đổi số trong cơ quan nhà nước; cùng nhóm điểm cộng, điểm trừ trong công tác CCHC. Cấu trúc này cho thấy cách tiếp cận của Bộ đã mở rộng đáng kể so với cách hiểu CCHC chỉ xoay quanh thủ tục hành chính. CCHC được nhìn nhận như một hệ thống quản trị tổng thể, bao gồm cả thể chế, tổ chức, con người, tài chính, dữ liệu, công nghệ và trách nhiệm thực thi. Trong đó, công tác chỉ đạo, điều hành CCHC được đánh giá thông qua 8 tiêu chí, tập trung vào những nội dung rất cụ thể như xây dựng và thực hiện kế hoạch CCHC, chế độ báo cáo định kỳ, kiểm tra CCHC, xử lý các vấn đề phát hiện qua kiểm tra, tuyên truyền, đổi mới sáng tạo, giải quyết phản ánh kiến nghị và kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, việc thực hiện kế hoạch được tính theo tỷ lệ nhiệm vụ đã hoàn thành; nếu tỷ lệ hoàn thành dưới 80% thì điểm đánh giá bằng 0. Đối với nhiệm vụ được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, lãnh đạo Bộ giao và các nhiệm vụ thuộc chương trình công tác năm, tiến độ hoàn thành được lượng hóa trực tiếp trong công thức tính điểm. Điều đó khiến tiến độ thực hiện nhiệm vụ trở thành một chỉ báo quan trọng về năng lực điều hành của mỗi đơn vị.Cải cách thể chế là nhóm có phạm vi đánh giá rộng, gồm 10 tiêu chí. Không chỉ đánh giá việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật theo chương trình được phê duyệt, Bộ Chỉ số còn xem xét tổ chức thi hành pháp luật, công bố danh mục văn bản hết hiệu lực, kiểm tra và xử lý văn bản, cập nhật văn bản trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật, pháp điển, hợp nhất văn bản, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, trả lời kiến nghị tháo gỡ khó khăn và xây dựng tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành. Với cách thiết kế này, kết quả CCHC gắn trực tiếp với chất lượng xây dựng và tổ chức thi hành chính sách, pháp luật chứ không chỉ dừng ở khâu ban hành văn bản. Cải cách thủ tục hành chính tiếp tục là một cấu phần quan trọng với 5 tiêu chí và 15 tiêu chí thành phần. Các nội dung được lượng hóa từ kiểm soát quy định TTHC, rà soát và đơn giản hóa TTHC, công bố và công khai TTHC, công bố quy trình nội bộ, thực hiện cơ chế một cửa, kết quả giải quyết hồ sơ, tiếp nhận và xử lý phản ánh kiến nghị. Đáng chú ý, Bộ đặt ngưỡng khá cao đối với kết quả giải quyết hồ sơ: tỷ lệ hồ sơ TTHC giải quyết đúng hạn được tính theo tỷ lệ thực tế và trường hợp tỷ lệ này dưới 95% thì điểm đánh giá bằng 0. Cách thiết kế như vậy cho thấy mục tiêu không chỉ là “có thủ tục” hoặc “có quy trình”, mà hướng đến chất lượng và hiệu quả thực tế của quá trình giải quyết công việc. Một điểm có ý nghĩa lớn trong Bộ Chỉ số là cải cách tổ chức bộ máy và cải cách chế độ công vụ được lượng hóa thành những yêu cầu cụ thể. Đối với tổ chức bộ máy, các đơn vị được đánh giá về việc hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức; cơ cấu số lượng lãnh đạo; sử dụng biên chế; thực hiện phân cấp, phân quyền và phối hợp thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Đối với chế độ công vụ, trọng tâm là vị trí việc làm, bố trí công chức, viên chức theo vị trí việc làm được phê duyệt, tuyển dụng, bổ nhiệm, chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính, đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức, công chức. Như vậy, Bộ Chỉ số đưa yêu cầu đúng người – đúng vị trí – đúng trách nhiệm – đúng quy định trở thành một phần có thể đo lường trong kết quả CCHC.Đối với cải cách tài chính công, các tiêu chí tập trung vào tổ chức thực hiện tài chính – ngân sách, giải ngân kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước, sử dụng kinh phí ngân sách, thực hiện kiến nghị sau thanh tra, kiểm tra, kiểm toán; quản lý, sử dụng tài sản công và thực hiện cơ chế tự chủ tại đơn vị sự nghiệp công lập. Điều này cho thấy CCHC được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với hiệu quả sử dụng nguồn lực công. Một đơn vị muốn đạt kết quả CCHC tốt không chỉ cần hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn mà còn phải sử dụng ngân sách, tài sản công đúng quy định, hiệu quả và minh bạch. Đặc biệt, chuyển đổi số trong cơ quan nhà nước trở thành một cấu phần độc lập của Chỉ số CCHC với các tiêu chí liên quan đến phát triển ứng dụng, dịch vụ nội bộ; phát triển ứng dụng, dịch vụ phục vụ người dân, tổ chức; và quản trị, chia sẻ dữ liệu. Các chỉ tiêu được thiết kế khá cụ thể: tỷ lệ xử lý văn bản, hồ sơ công việc trên môi trường mạng; tỷ lệ nhiệm vụ được theo dõi, quản lý, giám sát trên môi trường điện tử; xây dựng, vận hành hệ thống báo cáo; số hóa hồ sơ; tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến toàn trình; thanh toán trực tuyến; xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo yêu cầu “Đúng, Đủ, Sạch, Sống” và tỷ lệ cơ sở dữ liệu chuyên ngành được chuẩn hóa, kết nối đồng bộ về Kho dữ liệu dùng chung của Bộ. Đây là điểm đặc biệt có ý nghĩa đối với các đơn vị chuyên môn có hệ thống dữ liệu chuyên ngành, trong đó có Cục Viễn thám quốc gia. Bộ Chỉ số không xem chuyển đổi số đơn thuần là việc sử dụng phần mềm hay số hóa hồ sơ, mà đã chuyển sang đánh giá khả năng hình thành, quản trị, chuẩn hóa, kết nối và chia sẻ dữ liệu. Đây là bước chuyển quan trọng từ “ứng dụng CNTT” sang “quản trị dựa trên dữ liệu”, phù hợp với yêu cầu hiện đại hóa nền hành chính và xây dựng Chính phủ số.Một điểm mới đáng chú ý khác là cơ chế điểm cộng, điểm trừ. Bộ dành 100 điểm cộng cho những kết quả nổi bật, như đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số có ảnh hưởng sâu rộng, có hiệu quả và khả năng nhân rộng; hoàn thành nhiệm vụ đột xuất, nhiệm vụ phát sinh ngoài kế hoạch do lãnh đạo Bộ giao; hoàn thành kế hoạch xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; giải quyết TTHC sớm hạn; phối hợp tốt với Tổ công tác CCHC và báo cáo tự chấm điểm đúng hạn; xây dựng và triển khai phong trào thi đua về CCHC. Ngược lại, có thể bị trừ tới 100 điểm đối với các trường hợp như bị lãnh đạo Bộ phê bình, nhắc nhở bằng văn bản; không có giải pháp khắc phục tiêu chí bị trừ điểm của năm trước; gửi báo cáo tự đánh giá chậm; không phối hợp tốt với Tổ công tác CCHC hoặc không bố trí kinh phí thực hiện CCHC. Cơ chế này làm cho Chỉ số CCHC trở thành một hệ thống khuyến khích và cảnh báo, thay vì chỉ là công cụ chấm điểm. Đơn vị có sáng kiến, có kết quả nổi bật, chủ động nhận và hoàn thành nhiệm vụ phát sinh sẽ có cơ hội nâng điểm; trong khi những tồn tại lặp lại, chậm báo cáo, thiếu phối hợp hoặc thiếu nguồn lực cho CCHC sẽ tác động trực tiếp đến kết quả. Đây cũng là cách đưa trách nhiệm giải trình, tính chủ động và tinh thần đổi mới vào trong đánh giá hoạt động của cơ quan hành chính.Cục Viễn thám quốc gia: cần chuyển Bộ Chỉ số thành chương trình hành động cụ thểTheo Phụ lục I, Cục Viễn thám quốc gia là một trong 25 đơn vị hành chính của Bộ được xác định Chỉ số CCHC hằng năm, cùng với các Cục, Vụ và Văn phòng Bộ. Vì vậy, việc thực hiện Quyết định 3468/QĐ-BNNMT đối với Cục không nên chỉ được chuẩn bị vào thời điểm cuối năm để phục vụ tự chấm điểm, mà cần được tổ chức ngay từ đầu theo một cơ chế quản trị thường xuyên.Việc đầu tiên Cục cần thực hiện là lập ma trận tiêu chí CCHC của Cục Viễn thám quốc gia, đối chiếu từng tiêu chí, tiêu chí thành phần của Phụ lục II với chức năng, nhiệm vụ và đầu mối thực hiện trong Cục. Mỗi tiêu chí cần xác định rõ đơn vị chủ trì, đơn vị phối hợp, sản phẩm đầu ra, thời hạn hoàn thành, cách tính điểm và đặc biệt là tài liệu minh chứng. Đây là yêu cầu trực tiếp của Quyết định: các đơn vị phải tự theo dõi, đánh giá, cung cấp tài liệu kiểm chứng và chịu trách nhiệm bảo đảm việc xác định Chỉ số đầy đủ, khách quan, chính xác, đúng thời gian; đồng thời phải bổ sung minh chứng khi Tổ thẩm định của Bộ yêu cầu. Tiếp theo, Cục cần xây dựng kế hoạch CCHC hằng năm theo đúng cấu trúc của Bộ Chỉ số, thay vì xây dựng một kế hoạch độc lập rồi cuối năm mới đối chiếu. Với nhóm chỉ đạo, điều hành, cần theo dõi chặt chẽ tiến độ từng nhiệm vụ; bảo đảm báo cáo CCHC đúng số lượng, nội dung và thời hạn; thực hiện kiểm tra CCHC theo kế hoạch và xử lý đầy đủ các vấn đề được phát hiện. Đặc biệt, Cục cần duy trì cơ chế kiểm soát các nhiệm vụ do Bộ, lãnh đạo Bộ giao để hạn chế nhiệm vụ hoàn thành chậm, bởi tiến độ thực hiện được lượng hóa trực tiếp trong Bộ Chỉ số.Ở lĩnh vực thể chế, Cục cần rà soát toàn bộ văn bản, quy chế, quy trình và các nhiệm vụ xây dựng văn bản thuộc phạm vi quản lý nhà nước về viễn thám; chủ động theo dõi hiệu lực của văn bản; thực hiện kiểm tra, xử lý và cập nhật văn bản theo quy định. Những nhiệm vụ xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức, quy trình chuyên môn nếu được giao cũng cần được quản lý theo tiến độ cụ thể, bởi Bộ Chỉ số đánh giá cả kết quả và thời hạn hoàn thành.Đối với thủ tục hành chính, Cục cần rà soát lại toàn bộ các TTHC thuộc phạm vi quản lý, các quy trình cung cấp dịch vụ công, việc công bố, công khai, cập nhật và giải quyết hồ sơ. Các nhiệm vụ liên quan đến cải cách TTHC cần được chuẩn hóa thành quy trình có đầu mối, thời hạn và sản phẩm rõ ràng. Đặc biệt, cần quản lý chặt dữ liệu hồ sơ, tiến độ giải quyết và phản ánh, kiến nghị để bảo đảm khi phát sinh hồ sơ thuộc phạm vi đánh giá, Cục có đầy đủ dữ liệu chứng minh kết quả thực hiện.Cải cách tổ chức bộ máy và chế độ công vụ cần được Cục gắn với quá trình hoàn thiện tổ chức sau sắp xếp. Cục cần rà soát chức năng, nhiệm vụ của từng phòng, đơn vị; cơ cấu lãnh đạo; việc sử dụng biên chế; vị trí việc làm; bố trí công chức theo vị trí việc làm được phê duyệt; đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá cán bộ. Cùng với đó là tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính. Đây không phải những nội dung riêng của công tác tổ chức cán bộ mà đã trở thành các tiêu chí trực tiếp trong đánh giá kết quả CCHC của Cục.Đối với tài chính công, Cục cần kiểm soát tiến độ giải ngân, sử dụng kinh phí ngân sách, thực hiện các kiến nghị sau thanh tra, kiểm tra, kiểm toán và quản lý tài sản công. Đặc biệt, cần chủ động bố trí nguồn lực cho chính công tác CCHC, bởi Phụ lục II quy định rõ việc không bố trí kinh phí thực hiện CCHC tại đơn vị là một nội dung bị trừ điểm.Tuy nhiên, chuyển đổi số và quản trị dữ liệu mới là lĩnh vực Cục Viễn thám quốc gia có thể tạo ra dấu ấn riêng trong thực hiện Chỉ số CCHC. Cục cần rà soát, lập danh mục các cơ sở dữ liệu chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý; xác định hiện trạng từng cơ sở dữ liệu về cấu trúc, dữ liệu, metadata, chất lượng, khả năng cập nhật và khả năng kết nối. Trên cơ sở đó, xây dựng lộ trình bảo đảm dữ liệu đạt yêu cầu “Đúng, Đủ, Sạch, Sống”, chuẩn hóa và kết nối đồng bộ với Kho dữ liệu dùng chung của Bộ theo quy định. Phụ lục II đã quy định trực tiếp hai tiêu chí về mức độ hoàn thành xây dựng CSDL chuyên ngành và tỷ lệ CSDL chuyên ngành được chuẩn hóa, kết nối đồng bộ về Kho dữ liệu dùng chung của Bộ. Điều này đặc biệt phù hợp với đặc thù của lĩnh vực viễn thám, nơi dữ liệu không chỉ là sản phẩm đầu ra mà còn là hạ tầng thông tin phục vụ quản lý nhà nước. Cục có thể tận dụng quá trình chuẩn hóa, tích hợp và khai thác dữ liệu viễn thám để vừa nâng cao hiệu quả quản lý chuyên ngành, vừa tạo ra các kết quả có khả năng đóng góp vào nhóm điểm cộng về đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Theo Bộ Chỉ số, một sáng kiến hoặc giải pháp đổi mới sáng tạo có kết quả nổi bật, ảnh hưởng sâu rộng, mang lại hiệu quả và có khả năng nhân rộng có thể được xem xét điểm cộng đáng kể. Một nhiệm vụ rất thiết thực mà Cục nên triển khai là xây dựng kho hồ sơ minh chứng CCHC điện tử. Thay vì đến cuối năm mới thu thập văn bản, báo cáo, quyết định, sản phẩm và số liệu để phục vụ tự đánh giá, từng tiêu chí cần được cập nhật minh chứng ngay sau khi nhiệm vụ hoàn thành. Kho minh chứng có thể tổ chức theo tám nhóm nội dung của Bộ Chỉ số, đồng thời gắn với đầu mối phụ trách và thời gian cập nhật. Khi đến kỳ tự đánh giá trên phần mềm của Bộ, Cục có thể nhanh chóng đối chiếu, tổng hợp và cung cấp minh chứng, giảm đáng kể nguy cơ mất điểm do thiếu hồ sơ hoặc không thống nhất số liệu.Cùng với đó, Cục cần hình thành một cơ chế tự kiểm tra CCHC theo quý, trong đó lãnh đạo Cục định kỳ xem xét tiến độ thực hiện các tiêu chí có nguy cơ không đạt, các nhiệm vụ sắp quá hạn, các tiêu chí cần minh chứng bổ sung và những nội dung bị trừ điểm trong năm trước. Cách làm này sẽ biến Bộ Chỉ số từ một công cụ đánh giá cuối năm thành một hệ thống cảnh báo sớm phục vụ công tác điều hành. Đây cũng là cách thực hiện hiệu quả yêu cầu của Quyết định về đánh giá “thực chất”, thay vì chỉ tập trung vào việc hoàn thiện hồ sơ chấm điểm.Theo Quyết định 3468/QĐ-BNNMT, các đơn vị sẽ tự đánh giá và cung cấp tài liệu kiểm chứng, sau đó kết quả tự đánh giá được Tổ thẩm định Chỉ số CCHC của Bộ xem xét, thẩm định trước khi trình lãnh đạo Bộ phê duyệt. Chỉ số được xác định bằng tỷ lệ phần trăm giữa tổng điểm đạt được và tổng điểm tối đa theo thang điểm đánh giá; kết quả các đơn vị được xếp hạng từ cao xuống thấp theo hai khối là khối cơ quan Bộ và khối các Cục. Đáng chú ý, toàn bộ quá trình đánh giá được thực hiện trên phần mềm xác định Chỉ số CCHC của Bộ nhằm bảo đảm tính chính xác, công khai, minh bạch và thuận lợi trong quá trình đánh giá. Việc đánh giá và công bố kết quả được thực hiện trong Quý I của năm sau năm đánh giá trên phần mềm xác định Chỉ số CCHC do Cục Chuyển đổi số xây dựng. Điều này có nghĩa rằng các đơn vị phải chuẩn bị dữ liệu và minh chứng trong suốt cả năm, không thể chờ đến cuối kỳ mới bắt đầu tổng hợp. Với Cục Viễn thám quốc gia, Quyết định 3468/QĐ-BNNMT vì vậy không chỉ là thêm một chế độ báo cáo hay một cuộc đánh giá hằng năm. Quan trọng hơn, đây là một khung quản trị mới, buộc mỗi đơn vị phải trả lời được những câu hỏi rất cụ thể: nhiệm vụ đã hoàn thành đến đâu, chất lượng thế nào, có đúng hạn không, ai chịu trách nhiệm, kết quả được chứng minh bằng gì và dữ liệu có thể kiểm chứng ở đâu.Trong bối cảnh Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang đẩy mạnh cải cách tổ chức, chuyển đổi số và xây dựng nền hành chính hiện đại, Chỉ số CCHC sẽ tạo ra một “thước đo” chung để các đơn vị nhìn nhận lại chính mình. Với Cục Viễn thám quốc gia, nếu chủ động biến các tiêu chí thành kế hoạch hành động, quy trình nội bộ, hệ thống dữ liệu và cơ chế giám sát thường xuyên, CCHC sẽ không còn là nhiệm vụ hành chính mang tính đánh giá cuối năm mà trở thành động lực để hiện đại hóa phương thức quản lý nhà nước về viễn thám.Từ “làm đúng” đến “đo được”, từ “hoàn thành” đến “hoàn thành có chất lượng” – đó chính là giá trị cốt lõi mà Bộ Chỉ số CCHC mới hướng tới. Và đối với Cục Viễn thám quốc gia, đây cũng là cơ hội để khẳng định vai trò của một cơ quan quản lý chuyên ngành có thế mạnh về khoa học công nghệ, dữ liệu và chuyển đổi số trong tiến trình xây dựng nền hành chính hiện đại, minh bạch và dựa trên dữ liệu.