Sign In

Kế hoạch Cải cách hành chính giai đoạn 2026–2030 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, những yêu cầu đặt ra và nhiệm vụ trọng tâm của Cục Viễn thám quốc gia

08:32 04/09/2026

Chọn cỡ chữ A a  

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Kế hoạch cải cách hành chính trọng tâm giai đoạn 2026–2030 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường (Quyết định số 3185/QĐ-BNNMT). Đây là văn bản có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng và tổ chức thực hiện công tác cải cách hành chính của Bộ trong giai đoạn mới, với yêu cầu tiếp tục xây dựng nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Kế hoạch không chỉ đặt ra yêu cầu cải cách đối với các cơ quan tham mưu, quản lý chung của Bộ mà được triển khai thống nhất đến các đơn vị trực thuộc, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực quản lý của từng đơn vị. Vì vậy, đối với Cục Viễn thám quốc gia, việc triển khai Quyết định số 3185/QĐ-BNNMT cần được xác định là một nhiệm vụ thường xuyên, gắn trực tiếp với việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về viễn thám, đồng thời phải đặc biệt quan tâm đến các tiêu chí, nội dung có liên quan đến đánh giá, chấm điểm cải cách hành chính của Bộ.

Theo Kế hoạch, công tác cải cách hành chính giai đoạn 2026–2030 được triển khai trên 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm, gồm cải cách thể chế; cải cách thủ tục hành chính; cải cách tổ chức bộ máy; cải cách chế độ công vụ; cải cách tài chính công; xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số. Trong đó, cải cách thể chế được xác định theo hướng tiếp tục hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn, bất cập pháp lý, nâng cao chất lượng xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật. Cải cách thủ tục hành chính tập trung vào kiểm soát chặt chẽ quy định thủ tục hành chính ngay từ khâu xây dựng văn bản, rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục, giảm thành phần hồ sơ và các yêu cầu không cần thiết, đồng thời tăng cường khai thác dữ liệu để phục vụ giải quyết thủ tục. Các nhóm nhiệm vụ về tổ chức bộ máy, công vụ và tài chính công hướng tới nâng cao hiệu lực quản lý, chất lượng đội ngũ, kỷ luật, kỷ cương hành chính và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Đối với Chính phủ điện tử, Chính phủ số, Kế hoạch nhấn mạnh phát triển hạ tầng số, nền tảng số, hệ thống dữ liệu theo hướng tập trung, thống nhất, an toàn; tăng cường kết nối, chia sẻ, liên thông và khai thác, tái sử dụng dữ liệu. 

 

Kế hoạch cũng đặt ra những mục tiêu cụ thể theo từng giai đoạn. Trong năm 2026–2027, Bộ phấn đấu 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện được cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình; 100% cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ đạt cấp độ 3 về mức độ trưởng thành quản trị dữ liệu; 100% nền tảng số quốc gia, nền tảng số dùng chung của ngành, lĩnh vực nông nghiệp và môi trường phục vụ Chính phủ số được hoàn thành, đưa vào sử dụng thống nhất. Giai đoạn 2028–2030, yêu cầu được nâng lên với mục tiêu 90% thông tin, dữ liệu đã số hóa được khai thác, sử dụng lại trong giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công; 80% giao dịch thanh toán dịch vụ công được thực hiện trực tuyến; 100% đơn vị trực thuộc Bộ đạt cấp độ 4 về trưởng thành quản trị dữ liệu và 100% cơ quan, đơn vị cung cấp dữ liệu mở đúng chuẩn. Để bảo đảm thực hiện các mục tiêu này, Kế hoạch đồng thời quy định cơ chế theo dõi, đánh giá, kiểm tra và trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị. Đặc biệt, kết quả cải cách hành chính được gắn với đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ và công tác thi đua, khen thưởng. Đây là điểm Cục Viễn thám quốc gia cần đặc biệt lưu ý: kết quả thực hiện nhiệm vụ của Cục không chỉ được xem xét ở góc độ hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn mà còn phải đáp ứng yêu cầu về tiến độ, chất lượng, hiệu quả và hồ sơ minh chứng phục vụ đánh giá cải cách hành chính của Bộ.

Từ những yêu cầu chung đó, vấn đề đầu tiên Cục Viễn thám quốc gia cần tập trung giải quyết là cải cách thể chế trong lĩnh vực viễn thám. Theo chức năng, nhiệm vụ được giao, Cục có trách nhiệm tham mưu, trình Bộ trưởng về cơ chế, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật, quy chế, quy trình trong lĩnh vực viễn thám. Đây là lĩnh vực có sự phát triển nhanh về công nghệ, phương thức thu nhận và khai thác dữ liệu, trong khi yêu cầu quản lý nhà nước ngày càng mở rộng. Vì vậy, Cục cần chủ động rà soát hệ thống văn bản thuộc phạm vi quản lý, nhận diện những quy định không còn phù hợp, những vấn đề chồng chéo, thiếu đồng bộ hoặc chưa được quy định đầy đủ để kịp thời tham mưu sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc ban hành mới. Việc rà soát phải được thực hiện thường xuyên, gắn với quá trình tổ chức thi hành pháp luật và thực tiễn hoạt động quản lý, không nên chỉ thực hiện khi có yêu cầu xây dựng một văn bản cụ thể.

Đặc biệt, Cục cần quản lý chặt chẽ tiến độ và chất lượng các nhiệm vụ xây dựng văn bản. Đối với mỗi văn bản được giao chủ trì hoặc phối hợp, cần xác định rõ yêu cầu, thời hạn, đơn vị và cá nhân phụ trách, các mốc công việc và sản phẩm phải hoàn thành. Quá trình xây dựng phải bảo đảm đầy đủ hồ sơ, thực hiện đúng trình tự, thủ tục, lấy ý kiến và tiếp thu, giải trình theo quy định; đồng thời rà soát kỹ tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành. Đây là yêu cầu có ý nghĩa trực tiếp đối với kết quả cải cách thể chế của Bộ, bởi Kế hoạch đã nhấn mạnh việc kiểm tra, đôn đốc và xử lý trách nhiệm đối với trường hợp chậm tiến độ hoặc chất lượng văn bản không bảo đảm. Vì vậy, Cục cần đặt mục tiêu rõ ràng là không để nhiệm vụ xây dựng văn bản thuộc trách nhiệm của Cục bị chậm, bị trả lại do hồ sơ không đầy đủ hoặc phải kéo dài do chất lượng chuẩn bị không đáp ứng yêu cầu.

Cùng với xây dựng văn bản, công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa, hợp nhất và pháp điển văn bản quy phạm pháp luật cần được Cục xác định là nhiệm vụ thường xuyên trong quản lý lĩnh vực viễn thám. Kế hoạch của Bộ yêu cầu thực hiện thường xuyên, hiệu quả công tác kiểm tra, xử lý; rà soát, hợp nhất, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật theo quy định, trong đó Vụ Pháp chế là cơ quan chủ trì và các đơn vị trực thuộc có trách nhiệm phối hợp thực hiện. Trên cơ sở đó, Cục cần chủ động phối hợp với Vụ Pháp chế rà soát toàn bộ văn bản thuộc lĩnh vực được giao quản lý, lập danh mục và xác định rõ tình trạng pháp lý của từng văn bản; kịp thời phát hiện văn bản hết hiệu lực, văn bản đã được sửa đổi, bổ sung, các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp. Đối với những văn bản cần hợp nhất, hệ thống hóa hoặc pháp điển, Cục cần chủ động phối hợp cung cấp đầy đủ nội dung, kiểm tra tính chính xác và hoàn thành phần việc được giao đúng thời hạn. Kết quả rà soát, xử lý phải được thể hiện bằng sản phẩm cụ thể và được lưu trữ đầy đủ để làm căn cứ kiểm tra, đánh giá. Đây là nội dung cần đặc biệt chú trọng bởi nếu chỉ thực hiện trên thực tế nhưng không có đầy đủ hồ sơ, tài liệu chứng minh thì kết quả thực hiện sẽ khó được ghi nhận đầy đủ trong đánh giá cải cách hành chính.

Một nội dung khác có tác động trực tiếp đến kết quả cải cách hành chính là kiểm soát thủ tục hành chính. Đối với Cục Viễn thám quốc gia, nhiệm vụ này gắn với các hoạt động cung cấp thông tin, dữ liệu ảnh viễn thám và các thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực viễn thám. Cục cần thường xuyên rà soát sự phù hợp giữa quy định pháp luật, quyết định công bố thủ tục hành chính, quy trình nội bộ, quy trình điện tử và việc giải quyết hồ sơ trên thực tế. Thành phần hồ sơ, trình tự, thời hạn, phương thức tiếp nhận và trả kết quả phải được thực hiện đúng quy định và thống nhất với nội dung đã công bố; tuyệt đối không để phát sinh tình trạng cán bộ tự yêu cầu thêm giấy tờ, thông tin hoặc điều kiện không được quy định. Mọi yêu cầu bổ sung hồ sơ phải có căn cứ và được thực hiện đúng quy trình.

Trong tổ chức thực hiện, kiểm soát thời hạn giải quyết hồ sơ phải được coi là một nhiệm vụ trọng tâm. Cục cần theo dõi chặt chẽ từng hồ sơ từ khi tiếp nhận đến khi trả kết quả, phân định rõ trách nhiệm ở từng khâu, chủ động cảnh báo những hồ sơ sắp đến hạn và xử lý ngay các trường hợp có nguy cơ chậm. Nếu phát sinh hồ sơ quá hạn, cần xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm và biện pháp khắc phục. Không để tình trạng hồ sơ quá hạn hoặc giải quyết không đúng quy định lặp lại qua các năm, bởi đây là những nội dung có thể ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng phục vụ người dân, tổ chức, doanh nghiệp và kết quả đánh giá cải cách hành chính của Bộ.

Cùng với kiểm soát cải cách hành chính, Cục cần chủ động rà soát để đơn giản hóa thủ tục trên cơ sở khai thác dữ liệu. Kế hoạch của Bộ yêu cầu giảm các thành phần hồ sơ, thông tin trùng lặp trên cơ sở khai thác dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Đối với lĩnh vực viễn thám, việc tiếp tục hoàn thiện và khai thác cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia có thể tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện yêu cầu này. Những thông tin Cục đã có, đã được chuẩn hóa và có thể xác thực cần từng bước được sử dụng lại trong quá trình xử lý công việc, hạn chế yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp lại thông tin. Như vậy, chuyển đổi số và phát triển dữ liệu không đứng độc lập mà phải trực tiếp góp phần cải cách thủ tục hành chính, giảm thời gian và chi phí thực hiện thủ tục.

Một yêu cầu quan trọng khác là Cục cần chủ động phối hợp thực hiện các mục tiêu về chuyển đổi số, dữ liệu và dịch vụ công của Bộ. Mặc dù Cục Chuyển đổi số là đơn vị đầu mối theo dõi, đánh giá nhiều chỉ tiêu về Chính phủ số và quản trị dữ liệu, các đơn vị chuyên ngành vẫn phải phối hợp cung cấp, chuẩn hóa, cập nhật và khai thác dữ liệu thuộc lĩnh vực phụ trách. Đối với Cục Viễn thám quốc gia, trọng tâm là bảo đảm cơ sở dữ liệu viễn thám được cập nhật đầy đủ, chính xác, có cấu trúc và tiêu chuẩn thống nhất, có khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác. Dữ liệu phải được nhìn nhận không chỉ là sản phẩm lưu trữ mà là nguồn lực phục vụ quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ và hỗ trợ ra quyết định. Đây cũng là cơ sở để lĩnh vực viễn thám đóng góp vào mục tiêu của Bộ về tăng cường khai thác, sử dụng lại dữ liệu đã số hóa trong giải quyết thủ tục hành chính và xây dựng Chính phủ số. 

Để bảo đảm các nhiệm vụ trên được thực hiện thực chất và không làm mất điểm cải cách hành chính của Bộ, Cục cần thiết lập một cơ chế quản lý, theo dõi riêng đối với các nhiệm vụ cải cách hành chính có liên quan đến Cục. Nguyên tắc thực hiện cần là “rõ nhiệm vụ, rõ đầu mối, rõ thời hạn, rõ sản phẩm, rõ trách nhiệm và rõ hồ sơ minh chứng”. Ngay từ đầu năm, cần rà soát các nội dung trong Kế hoạch 3185/QĐ-BNNMT và các yêu cầu đánh giá cải cách hành chính của Bộ để lập danh mục nhiệm vụ thuộc phạm vi Cục; giao cụ thể cho từng phòng, đơn vị; xác định thời hạn hoàn thành và người chịu trách nhiệm. Những nhiệm vụ có nguy cơ chậm phải được cảnh báo sớm và báo cáo lãnh đạo Cục để xử lý. Đồng thời, cần thực hiện tự kiểm tra định kỳ, nhất là trước các đợt kiểm tra cải cách hành chính của Bộ, để kịp thời phát hiện những nội dung còn thiếu, chưa đúng hoặc chưa có hồ sơ chứng minh.

Trong đó, hồ sơ minh chứng cần được hình thành ngay trong quá trình thực hiện, không chờ đến cuối năm mới tổng hợp. Đối với nhiệm vụ xây dựng văn bản phải lưu đầy đủ hồ sơ và các mốc xử lý; đối với rà soát văn bản phải có danh mục, báo cáo và kết quả xử lý; đối với pháp điển, hợp nhất và hệ thống hóa phải có sản phẩm cụ thể; đối với thủ tục hành chính phải theo dõi kết quả giải quyết, thời hạn, tình trạng hồ sơ và phản ánh, kiến nghị; đối với chuyển đổi số và dữ liệu phải có số liệu, kết quả thực hiện và tài liệu xác nhận. Khi đó, mỗi kết quả công việc của Cục không chỉ đáp ứng yêu cầu chuyên môn mà còn có thể được sử dụng đầy đủ làm căn cứ đánh giá cải cách hành chính.

Từ yêu cầu của Quyết định số 3185/QĐ-BNNMT, có thể thấy Cục Viễn thám quốc gia cần chuyển từ cách tiếp cận “thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính khi được giao” sang “lồng ghép cải cách hành chính vào toàn bộ hoạt động quản lý nhà nước về viễn thám”. Cải cách thể chế phải đi trước một bước, bảo đảm hệ thống pháp luật trong lĩnh vực viễn thám đầy đủ, đồng bộ và phù hợp thực tiễn; công tác rà soát, kiểm tra, hệ thống hóa, hợp nhất và pháp điển văn bản phải được thực hiện thường xuyên, có sản phẩm và hồ sơ đầy đủ; kiểm soát thủ tục hành chính phải bảo đảm đúng quy định, đúng thời hạn, không phát sinh yêu cầu ngoài quy định và từng bước đơn giản hóa trên cơ sở dữ liệu; chuyển đổi số phải tạo ra hiệu quả thực chất trong quản lý và cung cấp dịch vụ.

Quan trọng hơn, Cục cần coi tiến độ, chất lượng và hồ sơ minh chứng của nhiệm vụ cải cách hành chính là một phần của kết quả hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn. Không để xảy ra tình trạng nhiệm vụ chuyên môn đã hoàn thành nhưng chậm thời hạn theo yêu cầu; văn bản đã tham mưu nhưng hồ sơ chưa đầy đủ; thủ tục đã thực hiện nhưng còn hồ sơ quá hạn; nhiệm vụ rà soát, pháp điển, hợp nhất đã phối hợp nhưng không có sản phẩm hoặc tài liệu chứng minh. Chủ động kiểm soát những nguy cơ này chính là cách thiết thực nhất để Cục Viễn thám quốc gia vừa hoàn thành tốt chức năng quản lý nhà nước được giao, vừa góp phần bảo đảm chất lượng và điểm số cải cách hành chính chung của Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong giai đoạn 2026–2030.

Văn phòng Cục Viễn thám quốc gia

Ý kiến

Thực hiện Kết luận số 76-KL/TW: Từ kiện toàn tổ chức đến nâng cao hiệu quả quản trị ngành Nông nghiệp và Môi trường

Thực hiện Kết luận số 76-KL/TW: Từ kiện toàn tổ chức đến nâng cao hiệu quả quản trị ngành Nông nghiệp và Môi trường

Kế hoạch thực hiện Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV do Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành không chỉ đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy mà còn hướng tới một mục tiêu rộng hơn: xây dựng phương thức quản trị tinh gọn, rõ trách nhiệm, phân cấp, phân quyền hiệu quả, vận hành thông suốt mô hình chính quyền địa phương 02 cấp. Trong tiến trình đó, khoa học công nghệ, dữ liệu số và các công cụ quan trắc hiện đại, trong đó có công nghệ viễn thám, sẽ ngày càng giữ vai trò quan trọng. Với chức năng quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện các hoạt động về viễn thám, Cục Viễn thám quốc gia có trách nhiệm chủ động cụ thể hóa các yêu cầu của Kế hoạch vào lĩnh vực chuyên môn, góp phần tạo nền tảng dữ liệu và công nghệ phục vụ quản trị ngành Nông nghiệp và Môi trường trong mô hình mới.

Chủ động xây dựng Chiến lược ngành Nông nghiệp và Môi trường cho giai đoạn phát triển mới

Ngày 18/8/2026, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Quyết định số 3302/QĐ-BNNMT về việc ban hành Kế hoạch xây dựng Chiến lược ngành Nông nghiệp và Môi trường giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2050. Đây là bước chuẩn bị quan trọng, thể hiện sự chủ động của Bộ trong hoạch định định hướng phát triển dài hạn, đồng thời tạo cơ sở để ngành Nông nghiệp và Môi trường bước vào giai đoạn mới với một tầm nhìn thống nhất, toàn diện và bền vững.
Đảng ủy Cục Viễn thám quốc gia quán triệt, triển khai các nhiệm vụ thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV

Đảng ủy Cục Viễn thám quốc gia quán triệt, triển khai các nhiệm vụ thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV

Sáng ngày 18/8/2026, Đảng ủy Cục Viễn thám quốc gia tổ chức cho toàn thể đảng viên trong Đảng bộ tham dự Hội nghị trực tuyến nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV do Đảng ủy Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức. Hội nghị nhằm quán triệt những nội dung cốt lõi của các nghị quyết, kết luận của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, đồng thời triển khai các nghị quyết, kế hoạch của Đảng ủy Bộ và Bộ Nông nghiệp và Môi trường, định hướng những nhiệm vụ trọng tâm để các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện. Theo kế hoạch, Hội nghị được tổ chức từ 8h00 ngày 18/8/2026; tại Cục Viễn thám quốc gia, toàn bộ đảng viên tham dự tại Hội trường tầng 3 nhà B, trụ sở Cục.