Sign In

Đánh giá, chấm điểm công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật – Bước chuyển từ quản lý theo tiến độ sang quản trị theo chất lượng và trách nhiệm

16:54 11/08/2026

Chọn cỡ chữ A a  

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, chất lượng của hệ thống pháp luật luôn được xem là yếu tố quyết định hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Một văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đúng thời hạn nhưng thiếu căn cứ pháp lý, chưa bảo đảm tính thống nhất hoặc phải sửa đổi ngay sau khi có hiệu lực sẽ gây ra những hệ lụy lớn hơn nhiều so với việc chậm tiến độ. Chính vì vậy, việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg ngày 06/7/2026 phê duyệt Đề án thí điểm đánh giá, chấm điểm (KPI) về công tác xây dựng pháp luật không chỉ là đổi mới phương pháp đánh giá công vụ mà còn đánh dấu sự chuyển đổi tư duy quản lý từ đánh giá quá trình sang đánh giá kết quả cuối cùng của hoạt động xây dựng pháp luật.

Khác với nhiều hệ thống đánh giá hiện đang được các bộ, ngành triển khai, trong đó có việc đánh giá, chấm điểm kết quả thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo Quyết định số 1660/QĐ-BNNMT, hệ thống KPI về xây dựng pháp luật mang tính chuyên ngành rất cao. Nếu hệ thống đánh giá chung tập trung phản ánh mức độ hoàn thành nhiệm vụ, kết quả giải ngân, cải cách hành chính, chuyển đổi số, quản lý tài chính, tổ chức bộ máy và các chỉ tiêu quản trị nội bộ thì đánh giá công tác xây dựng pháp luật lại hướng tới kiểm soát toàn bộ vòng đời của một văn bản quy phạm pháp luật, từ khâu đề xuất chính sách, soạn thảo, thẩm định, lấy ý kiến, trình ban hành cho đến việc bảo đảm chất lượng sau khi văn bản có hiệu lực. Đây là lĩnh vực đòi hỏi tính chính xác tuyệt đối, bởi mỗi sai sót đều có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực quản lý nhà nước và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Điểm khác biệt nổi bật đầu tiên là đối tượng đánh giá không còn là đơn vị theo nghĩa chung mà là từng chủ thể tham gia trong chuỗi xây dựng pháp luật. Quyết định số 1205/QĐ-TTg xây dựng hệ thống sáu nhóm tiêu chí riêng biệt, đánh giá trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo, Bộ Tư pháp trong hoạt động thẩm định, các bộ phối hợp thẩm định, các bộ tham gia trả lời phiếu lấy ý kiến Thành viên Chính phủ, Văn phòng Chính phủ trong xử lý hồ sơ và cơ quan chủ trì trong việc tiếp thu, chỉnh lý hồ sơ theo yêu cầu của Chính phủ. Điều này phản ánh quan điểm "mọi mắt xích đều được đo lường", bảo đảm nguyên tắc "6 rõ": rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian và rõ kết quả. 

Trong khi đó, cơ chế đánh giá công vụ chung thường tập trung vào kết quả cuối cùng của một đơn vị hoặc cá nhân, ít phân tách trách nhiệm theo từng giai đoạn chuyên môn. Một nhiệm vụ có thể hoàn thành nhưng chưa phản ánh đầy đủ trách nhiệm của từng bộ phận tham gia. Đối với xây dựng pháp luật, cách tiếp cận này không còn phù hợp bởi một dự thảo văn bản chỉ có thể bảo đảm chất lượng khi tất cả các chủ thể trong quy trình đều thực hiện đúng và đủ trách nhiệm của mình.

Điểm đặc thù thứ hai là việc đánh giá không chỉ xem xét tiến độ mà đồng thời đánh giá chất lượng bằng các tiêu chí có khả năng lượng hóa rất cụ thể. Theo Quyết định số 1205/QĐ-TTg, mỗi hồ sơ đều được chấm điểm riêng về tiến độ và chất lượng. Hồ sơ trình đúng hạn được chấm tối đa, nhưng nếu báo cáo thẩm định kết luận chưa đủ điều kiện trình, văn bản phải đính chính sau khi ban hành hoặc bị đình chỉ, bãi bỏ do trái pháp luật thì sẽ bị trừ điểm rất nặng, thậm chí bị chấm 0 điểm. Như vậy, "đúng hạn" không còn là điều kiện đủ; chất lượng hồ sơ mới là yếu tố quyết định kết quả đánh giá. 

Đây là điểm khác biệt rất lớn so với đánh giá nhiệm vụ hành chính thông thường. Trong nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước, sản phẩm công việc vẫn có thể được điều chỉnh, bổ sung sau khi hoàn thành mà không ảnh hưởng quá lớn đến kết quả đánh giá. Ngược lại, đối với văn bản quy phạm pháp luật, việc phải sửa đổi, đính chính hay bị kết luận trái pháp luật đều phản ánh trực tiếp chất lượng của toàn bộ quá trình xây dựng văn bản và được coi là tiêu chí đánh giá mang tính quyết định.

Một điểm mới rất đáng chú ý là hệ thống KPI lần này không đánh giá theo cảm tính hay báo cáo tổng hợp mà dựa trên dữ liệu điện tử được cập nhật trên Hệ thống thông tin quản lý Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Tiến độ trình hồ sơ, thời gian xử lý, kết quả thẩm định, quá trình tiếp thu và hoàn thiện văn bản đều được ghi nhận, đối chiếu và xác minh trên hệ thống. Đồng thời, Bộ Tư pháp còn thực hiện cơ chế rà soát, phản hồi, giải trình và thẩm định độc lập trước khi công bố kết quả, bảo đảm tính khách quan và minh bạch trong đánh giá. 

Cũng cần thấy rằng, hệ thống KPI xây dựng pháp luật không đơn thuần nhằm xếp hạng các bộ, ngành mà quan trọng hơn là tạo áp lực tích cực để từng cơ quan nâng cao chất lượng quản trị công việc. Một văn bản chậm tiến độ sẽ được phát hiện ngay; một hồ sơ chưa đạt chất lượng sẽ được cảnh báo; một khâu phối hợp chưa hiệu quả cũng được ghi nhận đầy đủ. Điều này giúp lãnh đạo các bộ, ngành có thêm công cụ quản trị dựa trên dữ liệu thay vì chỉ dựa trên báo cáo định kỳ.

Đối với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc triển khai Quyết định số 1205/QĐ-TTg đã được cụ thể hóa bằng văn bản chỉ đạo yêu cầu các đơn vị chủ trì xây dựng văn bản quy phạm pháp luật chủ động lập kế hoạch chi tiết cho từng nhiệm vụ, xác định rõ tiến độ từng giai đoạn, chịu trách nhiệm toàn diện về chất lượng hồ sơ, tăng cường phối hợp với Vụ Pháp chế ngay từ giai đoạn đề xuất chính sách, đồng thời kiểm soát chặt chẽ chất lượng để hạn chế tối đa việc phải sửa đổi hoặc đính chính sau khi ban hành. Các đơn vị phối hợp cũng được yêu cầu tham gia góp ý đúng thời hạn, đúng trọng tâm và chịu trách nhiệm đối với nội dung tham gia; Vụ Pháp chế được giao theo dõi, đôn đốc, tổng hợp và tham mưu triển khai đánh giá KPI trong toàn Bộ. 

Đối với các đơn vị chuyên môn như Cục Viễn thám quốc gia, mặc dù số lượng văn bản quy phạm pháp luật chủ trì xây dựng không nhiều như các đơn vị quản lý chuyên ngành khác, nhưng yêu cầu đặt ra vẫn rất rõ ràng. Mỗi nhiệm vụ xây dựng thông tư, nghị định, quyết định hay hồ sơ chính sách đều phải được quản lý như một dự án trọng điểm, có kế hoạch tiến độ, phân công trách nhiệm cụ thể, theo dõi thường xuyên và kiểm soát chất lượng ở từng bước. Điều này đòi hỏi phải nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế, đồng thời tăng cường sự phối hợp giữa đơn vị chuyên môn với Vụ Pháp chế ngay từ giai đoạn đầu để hạn chế các sai sót phát sinh ở giai đoạn cuối.

Việc triển khai hệ thống KPI về xây dựng pháp luật cũng mở ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị nội bộ. Thay vì chỉ theo dõi văn bản đã hoàn thành hay chưa, các đơn vị cần quản lý toàn bộ chu trình xây dựng văn bản theo thời gian thực, cập nhật đầy đủ dữ liệu, thường xuyên rà soát các mốc tiến độ, chủ động xử lý các nguy cơ chậm trễ và bảo đảm hồ sơ luôn sẵn sàng đáp ứng yêu cầu thẩm định, trình ban hành. Đây chính là cách tiếp cận quản trị hiện đại, lấy dữ liệu làm nền tảng, lấy chất lượng làm trung tâm và lấy trách nhiệm của người đứng đầu làm yếu tố quyết định.

Có thể khẳng định rằng, Đề án thí điểm đánh giá, chấm điểm công tác xây dựng pháp luật theo Quyết định số 1205/QĐ-TTg không chỉ tạo ra một phương thức đánh giá mới mà còn hình thành một cơ chế quản trị mới đối với hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Nếu cơ chế đánh giá chung đang hướng tới nâng cao hiệu quả quản trị của từng đơn vị thì hệ thống KPI xây dựng pháp luật hướng tới mục tiêu cao hơn là bảo đảm mỗi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đúng tiến độ, đúng trình tự, đúng thẩm quyền và đạt chất lượng cao nhất. Đây sẽ là động lực quan trọng để nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính, tăng cường trách nhiệm giải trình và góp phần xây dựng hệ thống pháp luật ngày càng đồng bộ, thống nhất, khả thi, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

 

Văn phòng Cục Viễn thám quốc gia

Ý kiến

Chủ động xây dựng Chiến lược ngành Nông nghiệp và Môi trường cho giai đoạn phát triển mới

Ngày 18/8/2026, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Quyết định số 3302/QĐ-BNNMT về việc ban hành Kế hoạch xây dựng Chiến lược ngành Nông nghiệp và Môi trường giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2050. Đây là bước chuẩn bị quan trọng, thể hiện sự chủ động của Bộ trong hoạch định định hướng phát triển dài hạn, đồng thời tạo cơ sở để ngành Nông nghiệp và Môi trường bước vào giai đoạn mới với một tầm nhìn thống nhất, toàn diện và bền vững.
Đảng ủy Cục Viễn thám quốc gia quán triệt, triển khai các nhiệm vụ thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV

Đảng ủy Cục Viễn thám quốc gia quán triệt, triển khai các nhiệm vụ thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV

Sáng ngày 18/8/2026, Đảng ủy Cục Viễn thám quốc gia tổ chức cho toàn thể đảng viên trong Đảng bộ tham dự Hội nghị trực tuyến nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV do Đảng ủy Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức. Hội nghị nhằm quán triệt những nội dung cốt lõi của các nghị quyết, kết luận của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, đồng thời triển khai các nghị quyết, kế hoạch của Đảng ủy Bộ và Bộ Nông nghiệp và Môi trường, định hướng những nhiệm vụ trọng tâm để các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện. Theo kế hoạch, Hội nghị được tổ chức từ 8h00 ngày 18/8/2026; tại Cục Viễn thám quốc gia, toàn bộ đảng viên tham dự tại Hội trường tầng 3 nhà B, trụ sở Cục.
Xây dựng cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia: Hoàn thiện hạ tầng dữ liệu số phục vụ chuyển đổi số ngành nông nghiệp và môi trường

Xây dựng cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia: Hoàn thiện hạ tầng dữ liệu số phục vụ chuyển đổi số ngành nông nghiệp và môi trường

Cục Viễn thám quốc gia vừa ban hành Kế hoạch xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu lĩnh vực viễn thám nhằm cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Môi trường về phát triển dữ liệu phục vụ chuyển đổi số. Với lộ trình triển khai giai đoạn 2026-2030, kế hoạch tập trung giải quyết các nhiệm vụ trọng tâm từ hoàn thiện thể chế, chuẩn hóa dữ liệu, kết nối liên thông đến nâng cấp hạ tầng và bảo đảm an toàn thông tin, tạo nền tảng hình thành cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia thống nhất, hiện đại và dùng chung.