Sign In

Hành động 100 ngày tháo gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số: Bộ Nông nghiệp và Môi trường tăng tốc hoàn thiện hệ sinh thái dữ liệu số

16:53 11/08/2026

Chọn cỡ chữ A a  

Chuyển đổi số không còn là mục tiêu mang tính định hướng mà đã bước vào giai đoạn hành động quyết liệt với yêu cầu tạo ra những kết quả cụ thể, có thể đo lường và kiểm chứng. Thực hiện Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Quyết định số 2843/QĐ-BNNMT ngày 21/7/2026 kèm theo Kế hoạch triển khai xây dựng, hoàn thiện các cơ sở dữ liệu theo Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW, Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW và các Nghị quyết số 11/NQ-CP, 214/NQ-CP của Chính phủ. Đây là chương trình hành động tổng thể nhằm xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số của ngành trong giai đoạn 100 ngày, đồng thời tạo nền tảng lâu dài để hình thành hệ sinh thái dữ liệu số thống nhất của Bộ.

Điểm nổi bật của Kế hoạch không nằm ở việc tiếp tục xây dựng các cơ sở dữ liệu chuyên ngành như trước đây, mà ở cách tiếp cận mới với yêu cầu triển khai đồng bộ từ thể chế, dữ liệu, nền tảng số, hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ công trực tuyến đến nguồn nhân lực và cơ chế tổ chức thực hiện. Mọi nhiệm vụ đều được xác định rõ sản phẩm đầu ra, cơ quan chủ trì, đơn vị phối hợp và thời hạn hoàn thành, bảo đảm thực hiện theo tinh thần "6 rõ": rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm và rõ thẩm quyền. 

Chuyển từ xây dựng hệ thống sang tạo lập dữ liệu phục vụ quản trị số

Một trong những yêu cầu xuyên suốt của Kế hoạch là chuyển trọng tâm từ xây dựng các phần mềm, hệ thống thông tin sang xây dựng dữ liệu có chất lượng, coi dữ liệu là tài sản số cốt lõi phục vụ quản lý, điều hành và cung cấp dịch vụ công.

Theo đó, toàn bộ dữ liệu của ngành phải được xây dựng theo nguyên tắc "đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất và dùng chung". Dữ liệu phải được cập nhật đầy đủ, liên tục theo thời gian thực hoặc theo tần suất quy định; được chuẩn hóa ngay từ nguồn; có khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác trên phạm vi toàn quốc; đồng thời đáp ứng yêu cầu của Trung tâm Dữ liệu quốc gia. Các đơn vị chủ quản cơ sở dữ liệu không chỉ chịu trách nhiệm xây dựng dữ liệu mà còn phải phát triển các nền tảng ứng dụng dùng chung để tạo lập, quản trị, khai thác và thường xuyên đánh giá chất lượng dữ liệu.

Để thực hiện mục tiêu này, Bộ yêu cầu tất cả các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu được triển khai trên hạ tầng số dùng chung của Bộ, bảo đảm vận hành ổn định, thông suốt, an toàn; đồng thời tăng cường phối hợp với Bộ Công an và các địa phương trong quá trình kết nối, chia sẻ dữ liệu. 

Triển khai đồng bộ 17 nhiệm vụ trọng tâm trong 8 nhóm giải pháp

Khác với nhiều kế hoạch trước đây chỉ tập trung vào xây dựng cơ sở dữ liệu, Quyết định số 2843/QĐ-BNNMT xây dựng một chương trình hành động toàn diện gồm 17 nhiệm vụ, chia thành 8 nhóm lớn.

Nhóm nhiệm vụ đầu tiên tập trung hoàn thiện thể chế, rà soát toàn bộ các quy định pháp luật còn chồng chéo, cản trở chuyển đổi số để đề xuất sửa đổi trước cuối năm 2026; đồng thời xây dựng khung kiến trúc dữ liệu, khung quản trị dữ liệu, từ điển dữ liệu dùng chung và xác định dữ liệu gốc, dữ liệu chủ, dữ liệu mở cho từng lĩnh vực quản lý.

Song song với đó là nhóm nhiệm vụ về hạ tầng số, trong đó Bộ đặt mục tiêu hoàn thành đánh giá các hệ thống thông tin trọng yếu, kết nối hệ thống giám sát an toàn thông tin 24/7, hoàn thiện hồ sơ cấp độ an toàn hệ thống và tăng cường phối hợp với Bộ Công an trong công tác bảo đảm an ninh mạng.

Nhóm dữ liệu số là nội dung trọng tâm của toàn Kế hoạch với hàng loạt nhiệm vụ về xây dựng, chuẩn hóa, làm sạch, cập nhật và kết nối dữ liệu; tiếp theo là các nhiệm vụ về nền tảng số, dịch vụ công trực tuyến, phát triển kinh tế số, nguồn nhân lực và bố trí nguồn lực tài chính cho chuyển đổi số. 

Việc phân chia nhiệm vụ theo từng nhóm cho thấy chuyển đổi số của Bộ không còn được nhìn nhận là nhiệm vụ riêng của đơn vị công nghệ thông tin mà đã trở thành nhiệm vụ chung của toàn ngành, gắn với trách nhiệm của từng cơ quan quản lý chuyên ngành.

Hoàn thiện 12 cơ sở dữ liệu trọng điểm đã kết nối với Trung tâm Dữ liệu quốc gia

Một nội dung đặc biệt quan trọng của Kế hoạch là tiếp tục hoàn thiện 12 cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành đã kết nối chính thức với Trung tâm Dữ liệu quốc gia.

Thay vì coi việc kết nối là đích đến, Bộ yêu cầu các đơn vị tiếp tục rà soát, chuẩn hóa, đối soát, làm sạch, làm giàu dữ liệu, số hóa dữ liệu lịch sử có giá trị và cập nhật dữ liệu thường xuyên để bảo đảm đáp ứng đầy đủ yêu cầu chuyên môn, pháp lý và kỹ thuật. Mục tiêu là các cơ sở dữ liệu này thực sự trở thành nguồn dữ liệu dùng chung phục vụ quản lý nhà nước, chia sẻ giữa các cơ quan và tái sử dụng trong giải quyết thủ tục hành chính. 

Danh mục 12 cơ sở dữ liệu gồm Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, Cơ sở dữ liệu ngành nông nghiệp, Cơ sở dữ liệu khí tượng thủy văn quốc gia, Cơ sở dữ liệu nền địa lý quốc gia, Cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia, Cơ sở dữ liệu nuôi trồng thủy sản, Cơ sở dữ liệu trồng trọt, Cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia, Cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia, Cơ sở dữ liệu báo cáo thống kê ngành nông nghiệp và môi trường, Cơ sở dữ liệu khai thác sử dụng tài nguyên biển và hải đảo cùng Cơ sở dữ liệu hộ nghèo, hộ cận nghèo. Phần lớn các nhiệm vụ phải hoàn thành trước tháng 10 hoặc tháng 11 năm 2026. 

Khẩn trương xây dựng 9 cơ sở dữ liệu mới và 4 hệ thống thông tin

Bên cạnh các cơ sở dữ liệu đã vận hành, Kế hoạch yêu cầu khẩn trương xây dựng và hoàn thiện 09 cơ sở dữ liệu cùng 04 hệ thống thông tin hiện chưa kết nối với Trung tâm Dữ liệu quốc gia.

Các cơ sở dữ liệu mới trải rộng trên nhiều lĩnh vực như quản lý thuốc bảo vệ thực vật, quản lý mã số vùng trồng xuất khẩu, báo cáo tiến độ sản xuất ngành trồng trọt, bảo hộ giống cây trồng, quản lý thức ăn chăn nuôi, bố trí dân cư nông thôn và cơ sở dữ liệu rừng. Đồng thời, Bộ cũng hoàn thiện Hệ thống thư điện tử công vụ, Hệ thống Văn phòng điện tử và cơ sở dữ liệu văn bản, hồ sơ, tài liệu, Cổng thông tin điện tử Bộ và Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu lưu trữ điện tử để kết nối với Trung tâm Dữ liệu quốc gia. 

Điểm mới của Kế hoạch là quy định rất cụ thể quy trình kết nối gồm sáu bước từ hoàn thiện cơ sở dữ liệu, thống nhất trường thông tin, xây dựng API, đánh giá chất lượng dữ liệu, kiểm thử trên môi trường thử nghiệm đến kết nối chính thức trên hệ thống thực tế. Điều này giúp bảo đảm việc đồng bộ dữ liệu diễn ra thống nhất, an toàn và đúng tiêu chuẩn kỹ thuật.

Xây dựng Cơ sở dữ liệu ngành nông nghiệp theo mô hình tích hợp

Một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược là xây dựng Cơ sở dữ liệu ngành nông nghiệp theo mô hình tích hợp từ 09 cơ sở dữ liệu thành phần thuộc các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp, thủy lợi, phòng chống thiên tai, kinh tế hợp tác, chất lượng nông sản và thống kê ngành.

Theo Kế hoạch, các đơn vị chủ quản sẽ đồng thời chuẩn hóa dữ liệu của từng lĩnh vực, xây dựng nền tảng thu nhận dữ liệu tự động để hình thành cơ sở dữ liệu tổng hợp phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Bộ. Giai đoạn đầu ưu tiên nhóm dữ liệu tổng hợp và các chỉ số điều hành; sau đó tiếp tục mở rộng theo lộ trình đến năm 2030. 

Vai trò của Cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia trong hệ sinh thái dữ liệu số

Đối với Cục Viễn thám quốc gia, Quyết định số 2843 giao nhiệm vụ tiếp tục hoàn thiện Cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia - một trong 12 cơ sở dữ liệu trọng điểm của Bộ đã kết nối với Trung tâm Dữ liệu quốc gia.

Theo Kế hoạch, Cục Viễn thám quốc gia có trách nhiệm tiếp tục bổ sung, cập nhật dữ liệu; rà soát và hoàn thiện các phần mềm chuyên ngành tích hợp, lưu trữ và quản lý dữ liệu nhằm bảo đảm dữ liệu đáp ứng đầy đủ các tiêu chí "đúng, đủ, sạch, sống". Đồng thời, Cục phải hoàn thành việc hoàn thiện cơ sở dữ liệu và phần mềm chuyên ngành trước ngày 30/9/2026, tiếp tục kết nối, đồng bộ dữ liệu theo yêu cầu của Trung tâm Dữ liệu quốc gia trước ngày 30/10/2026

Đây là nhiệm vụ quan trọng bởi dữ liệu viễn thám không chỉ phục vụ riêng lĩnh vực viễn thám mà còn là nguồn dữ liệu nền phục vụ quản lý đất đai, tài nguyên nước, môi trường, lâm nghiệp, phòng chống thiên tai, biến đổi khí hậu và nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước khác. Việc tiếp tục hoàn thiện Cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia sẽ góp phần nâng cao khả năng chia sẻ, khai thác và tích hợp dữ liệu trong toàn ngành.

Kỷ luật thực thi là yếu tố quyết định thành công

Một điểm đáng chú ý khác của Quyết định là cơ chế tổ chức thực hiện rất chặt chẽ. Bộ yêu cầu các đơn vị xây dựng kế hoạch theo từng tuần, kiểm tra tiến độ thường xuyên, báo cáo kết quả có minh chứng trên Hệ thống theo dõi nhiệm vụ; đồng thời lấy kết quả thực hiện làm căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tập thể, cá nhân trong năm 2026. Các nhiệm vụ sẽ được kiểm tra theo sản phẩm, dữ liệu vận hành và trải nghiệm của người sử dụng, thay vì chỉ đánh giá trên báo cáo tiến độ. 

Việc ban hành Quyết định số 2843/QĐ-BNNMT không chỉ thể hiện quyết tâm của Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong triển khai Kế hoạch hành động 100 ngày của Ban Chỉ đạo Trung ương mà còn tạo khuôn khổ thống nhất để toàn ngành chuyển từ tư duy xây dựng hệ thống sang tư duy quản trị bằng dữ liệu. Khi các cơ sở dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối và khai thác hiệu quả, dữ liệu sẽ thực sự trở thành nguồn lực quan trọng thúc đẩy đổi mới phương thức quản lý, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho quá trình chuyển đổi số toàn diện của ngành nông nghiệp và môi trường trong những năm tới. 

Văn phòng Cục Viễn thám quốc gia

Ý kiến

Hoàn thiện hành lang pháp lý, mở rộng không gian phát triển cho hoạt động viễn thám

Hoàn thiện hành lang pháp lý, mở rộng không gian phát triển cho hoạt động viễn thám

Việc Bộ Nông nghiệp và Môi trường trình Chính phủ xem xét, ban hành Nghị định mới về hoạt động viễn thám đánh dấu bước chuyển quan trọng trong hoàn thiện thể chế đối với một lĩnh vực công nghệ có vai trò ngày càng lớn trong quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phát triển nông nghiệp, phòng chống thiên tai, phát triển kinh tế - xã hội và từng bước hình thành năng lực quan sát Trái đất của Việt Nam. So với Nghị định số 03/2019/NĐ-CP, dự thảo Nghị định lần này không chỉ cập nhật các quy định về dữ liệu ảnh viễn thám mà đã mở rộng phạm vi điều chỉnh sang toàn bộ chuỗi hoạt động viễn thám, từ thu nhận, quản lý dữ liệu, xây dựng cơ sở dữ liệu, khai thác và cung cấp dữ liệu đến ứng dụng, quản lý chất lượng sản phẩm và cấp phép hoạt động. Đây được xem là nền tảng pháp lý quan trọng để đưa viễn thám từ một lĩnh vực chủ yếu phục vụ quản lý nhà nước trở thành một hạ tầng dữ liệu và công nghệ có khả năng phục vụ đa ngành, đa lĩnh vực, thúc đẩy kinh tế dữ liệu và đóng góp ngày càng trực tiếp vào hệ sinh thái không gian vũ trụ của Việt Nam.

Nghiên cứu giải pháp xử lý khối dữ liệu ảnh viễn thám lớn ở quy mô quốc gia bằng công nghệ tính toán hiệu năng cao

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã công nhận kết quả thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ “Nghiên cứu, xây dựng quy trình xử lý khối dữ liệu ảnh viễn thám lớn ở quy mô quốc gia từ đa nguồn dữ liệu viễn thám độ phân giải cao và siêu cao phù hợp với điều kiện Việt Nam”, mã số TNMT.ĐL.2024.01. Đề tài do Đài Viễn thám Quốc gia, Cục Viễn thám Quốc gia chủ trì, ThS. Lưu Thị Phương Mai làm chủ nhiệm.
Chuẩn hóa kiến trúc dữ liệu lâm nghiệp: Nền tảng để phát huy giá trị dữ liệu viễn thám trong quản lý tài nguyên rừng

Chuẩn hóa kiến trúc dữ liệu lâm nghiệp: Nền tảng để phát huy giá trị dữ liệu viễn thám trong quản lý tài nguyên rừng

Trong tiến trình thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, dữ liệu ngày càng được xác định là nguồn tài nguyên chiến lược, đóng vai trò nền tảng trong quản trị hiện đại. Đối với lĩnh vực lâm nghiệp, nơi khối lượng thông tin được hình thành từ điều tra thực địa, kiểm kê rừng, theo dõi diễn biến rừng, ảnh viễn thám, hệ thống cảnh báo cháy rừng, hồ sơ hành chính và nhiều nguồn dữ liệu khác, việc xây dựng một khuôn khổ thống nhất để tổ chức, quản lý và khai thác dữ liệu là yêu cầu cấp thiết.