Sign In

Hoàn thiện hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về viễn thám: Nền tảng nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội

08:39 06/08/2026

Chọn cỡ chữ A a  

Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia đang được đẩy mạnh, dữ liệu được xem là nguồn tài nguyên mới, còn viễn thám đã vượt ra khỏi vai trò của một công cụ hỗ trợ để trở thành hạ tầng dữ liệu quan trọng phục vụ quản lý tài nguyên, môi trường, nông nghiệp, quy hoạch, phòng chống thiên tai, phát triển đô thị thông minh và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, để dữ liệu viễn thám thực sự phát huy giá trị, yếu tố quyết định không chỉ nằm ở công nghệ thu nhận ảnh vệ tinh ngày càng hiện đại mà còn ở khả năng chuẩn hóa toàn bộ quy trình tạo lập, xử lý, đánh giá chất lượng và khai thác dữ liệu. Chính vì vậy, việc Cục Viễn thám quốc gia đề xuất xây dựng bốn Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia gồm Quy chuẩn về điểm tham chiếu viễn thám, Quy chuẩn về khóa giải đoán viễn thám, Quy chuẩn về mẫu phổ và thư viện phổ viễn thám, Quy chuẩn về quan trắc dịch chuyển bề mặt Trái Đất bằng công nghệ viễn thám là bước đi có ý nghĩa chiến lược, góp phần hoàn thiện hành lang kỹ thuật cho ngành viễn thám Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới. Các đề xuất này được tổng hợp trong hồ sơ gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường để xem xét, bổ sung vào chương trình xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia giai đoạn 2026–2027.

Điểm nổi bật của các đề xuất không nằm ở việc bổ sung thêm các văn bản kỹ thuật, mà ở cách tiếp cận xây dựng một hệ thống quy chuẩn có tính liên kết, bao phủ toàn bộ chuỗi giá trị của dữ liệu viễn thám. Nếu Quy chuẩn về điểm tham chiếu tạo nền móng bảo đảm độ chính xác hình học của dữ liệu, thì Quy chuẩn về khóa giải đoán hướng đến chuẩn hóa tri thức giải đoán ảnh; Quy chuẩn về mẫu phổ và thư viện phổ cung cấp cơ sở dữ liệu chuẩn cho các thuật toán phân loại và trí tuệ nhân tạo; còn Quy chuẩn về quan trắc dịch chuyển bề mặt Trái Đất thiết lập khung kỹ thuật cho một trong những ứng dụng có giá trị cao nhất của công nghệ radar giao thoa hiện nay. Bốn quy chuẩn này không tồn tại độc lập mà bổ trợ cho nhau, tạo thành hệ sinh thái tiêu chuẩn hóa dữ liệu viễn thám quốc gia.

Thực tiễn hiện nay cho thấy phần lớn các dự án ứng dụng viễn thám tại Việt Nam đều được triển khai theo các quy trình kỹ thuật riêng của từng đơn vị, từng dự án hoặc tham khảo nhiều bộ tiêu chuẩn quốc tế khác nhau. Điều này dẫn đến tình trạng cùng một loại dữ liệu nhưng có thể cho ra các kết quả khác nhau do khác biệt về lựa chọn điểm kiểm tra, phương pháp xử lý, mô hình hiệu chỉnh, khóa giải đoán hoặc hệ thống dữ liệu tham chiếu. Chính hồ sơ đề xuất Quy chuẩn về điểm tham chiếu viễn thám cũng chỉ rõ hiện nay Việt Nam chưa có quy chuẩn thống nhất đối với việc lựa chọn, xây dựng, quản lý và khai thác điểm tham chiếu, khiến khả năng liên thông và so sánh dữ liệu còn hạn chế. 

Từ góc độ quản lý nhà nước, các quy chuẩn được đề xuất sẽ giải quyết một khoảng trống pháp lý và kỹ thuật đã tồn tại nhiều năm. Khi có quy chuẩn thống nhất, cơ quan quản lý sẽ có căn cứ kiểm tra chất lượng sản phẩm, tổ chức nghiệm thu, xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật, ban hành yêu cầu kỹ thuật trong đấu thầu, đồng thời tạo điều kiện để các bộ, ngành và địa phương sử dụng chung một chuẩn dữ liệu. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Chính phủ đang xây dựng hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia và các cơ sở dữ liệu dùng chung phục vụ chuyển đổi số. Quy chuẩn không chỉ là công cụ kiểm soát chất lượng mà còn là "ngôn ngữ kỹ thuật" thống nhất giữa các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp tham gia phát triển, khai thác dữ liệu viễn thám. 

Một trong những giá trị nổi bật của nhóm quy chuẩn là tạo nền tảng cho việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong xử lý dữ liệu viễn thám. Các mô hình học máy và học sâu chỉ phát huy hiệu quả khi được huấn luyện trên tập dữ liệu có chất lượng đồng nhất và có nhãn đáng tin cậy. Đề xuất Quy chuẩn về khóa giải đoán và Quy chuẩn về mẫu phổ, thư viện phổ thực chất đang hướng tới xây dựng hai thành phần cốt lõi của hệ sinh thái AI: bộ tiêu chí nhận dạng đối tượng và cơ sở dữ liệu huấn luyện chuẩn hóa. Khi dữ liệu được chuẩn hóa từ khâu thu thập, mô tả, siêu dữ liệu đến cấu trúc lưu trữ, khả năng phát triển các mô hình tự động phân loại lớp phủ, nhận dạng cây trồng, phát hiện biến động, đánh giá suy thoái môi trường hay nhận diện khoáng sản sẽ được nâng lên đáng kể. Đây là tiền đề để phát triển các sản phẩm số có giá trị gia tăng cao thay vì chỉ cung cấp ảnh viễn thám nguyên gốc. 

Đối với lĩnh vực quan trắc dịch chuyển bề mặt Trái Đất, đề xuất quy chuẩn thể hiện tầm nhìn tiếp cận các công nghệ viễn thám tiên tiến trên thế giới. Trong nhiều năm gần đây, công nghệ InSAR đã chứng minh hiệu quả trong theo dõi sụt lún đất, biến dạng công trình, trượt lở, biến dạng đê điều, hồ chứa, khai thác khoáng sản và giám sát hạ tầng. Tuy nhiên, hồ sơ đề xuất cũng chỉ rõ rằng tại Việt Nam vẫn tồn tại sự khác biệt đáng kể giữa các đơn vị về nguồn dữ liệu, quy trình xử lý, mô hình hiệu chỉnh và đánh giá độ chính xác, dẫn đến kết quả thiếu thống nhất và khó sử dụng trong quản lý nhà nước. Quy chuẩn được đề xuất sẽ quy định đồng bộ từ yêu cầu dữ liệu đầu vào, quy trình xử lý giao thoa radar, hiệu chỉnh sai số khí quyển, quỹ đạo, địa hình, đến tiêu chí đánh giá độ chính xác, chuẩn hóa sản phẩm và tích hợp với dữ liệu kiểm chứng mặt đất. 

Xét về mặt kỹ thuật, các nội dung quy chuẩn được đề xuất có tính khả thi cao bởi đều dựa trên các công nghệ đã được ứng dụng rộng rãi trong nước và quốc tế. Hồ sơ xây dựng Quy chuẩn về điểm tham chiếu tham khảo trực tiếp các tiêu chuẩn ISO 19130 và hướng dẫn của Sentinel-2 về hiệu chuẩn dữ liệu viễn thám; Quy chuẩn quan trắc dịch chuyển bề mặt tham chiếu nhiều tài liệu kinh điển về InSAR, các tài liệu của ESA, CEOS và European Ground Motion Service; Quy chuẩn về thư viện phổ kế thừa các thư viện phổ nổi tiếng như USGS, ASTER và SPECCHIO; còn Quy chuẩn khóa giải đoán dựa trên hệ thống ISO 191xx và các hướng dẫn của FAO, CORINE Land Cover, NASA và USGS. Điều này cho thấy định hướng xây dựng quy chuẩn không phải phát minh lại các quy trình kỹ thuật mà lựa chọn, nội địa hóa và chuẩn hóa các thông lệ quốc tế phù hợp với điều kiện Việt Nam. 

Tuy nhiên, để các quy chuẩn đi vào thực tiễn, một số vấn đề kỹ thuật cũng cần được quan tâm ngay trong quá trình xây dựng. Thứ nhất là yêu cầu tương thích với sự phát triển rất nhanh của công nghệ cảm biến. Trong vòng vài năm gần đây, các nguồn dữ liệu từ vệ tinh thương mại có độ phân giải siêu cao, UAV, hyperspectral, LiDAR và radar đa tần đã phát triển mạnh. Nếu quy chuẩn quy định quá chi tiết về thiết bị hoặc phương pháp xử lý, nguy cơ lạc hậu sẽ xuất hiện rất nhanh. Do đó, nên quy định theo hướng đặt ra các yêu cầu đầu ra, các chỉ tiêu kỹ thuật bắt buộc và mức chất lượng cần đạt, thay vì ràng buộc cứng vào một công nghệ cụ thể.

Thứ hai là tính mở trong việc tích hợp trí tuệ nhân tạo. Hiện nay, nhiều quy trình giải đoán không còn hoàn toàn dựa trên chuyên gia mà kết hợp AI, học sâu và mô hình nền tảng. Vì vậy, các quy chuẩn nên quy định nguyên tắc kiểm chứng, đánh giá chất lượng kết quả thay vì giới hạn phương pháp tạo ra kết quả. Cách tiếp cận này sẽ khuyến khích đổi mới sáng tạo trong khi vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý.

Thứ ba là cần bảo đảm khả năng liên thông với hạ tầng dữ liệu quốc gia. Các quy định về siêu dữ liệu, định dạng dữ liệu, mã hóa đối tượng, hệ tọa độ, cấu trúc cơ sở dữ liệu cần được thiết kế đồng bộ với hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia, cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường và các nền tảng chia sẻ dữ liệu của Chính phủ số. Đây là yếu tố quyết định để dữ liệu viễn thám không tồn tại như các kho dữ liệu riêng lẻ mà trở thành thành phần của hệ sinh thái dữ liệu quốc gia.

Một vấn đề khác liên quan đến tính khả thi là năng lực triển khai tại các địa phương và đơn vị ứng dụng. Việc ban hành quy chuẩn chỉ là bước đầu, trong khi hiệu quả thực sự phụ thuộc vào khả năng tổ chức đào tạo, chuyển giao công nghệ, xây dựng các bộ công cụ kiểm tra, phần mềm đánh giá chất lượng và cơ sở dữ liệu mẫu dùng chung. Nếu đi kèm với chương trình đào tạo và phát triển hạ tầng dữ liệu quốc gia, chi phí triển khai sẽ được giảm đáng kể nhờ tránh đầu tư trùng lặp giữa các đơn vị, đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm viễn thám trên phạm vi toàn quốc.

Từ góc độ phát triển kinh tế - xã hội, nhóm quy chuẩn này có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi chuyên ngành viễn thám. Khi dữ liệu được chuẩn hóa và có thể kiểm chứng, các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, đất đai, tài nguyên nước, địa chất, giao thông, xây dựng, quy hoạch đô thị, phòng chống thiên tai và bảo vệ môi trường sẽ có nguồn dữ liệu đầu vào có độ tin cậy cao hơn để xây dựng các hệ thống hỗ trợ ra quyết định. Các doanh nghiệp công nghệ cũng có điều kiện phát triển các dịch vụ số dựa trên dữ liệu viễn thám chuẩn hóa, từ giám sát cây trồng, bảo hiểm nông nghiệp, quản lý hạ tầng đến cảnh báo thiên tai và phát triển đô thị thông minh. Đây cũng là tiền đề để hình thành thị trường dữ liệu viễn thám và các sản phẩm số có giá trị gia tăng cao.

Có thể khẳng định rằng, việc Cục Viễn thám quốc gia đề xuất chương trình xây dựng bốn Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia không đơn thuần nhằm hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm kỹ thuật, mà hướng tới xây dựng nền tảng quản trị dữ liệu viễn thám hiện đại, thống nhất và hội nhập quốc tế. Các quy chuẩn này đáp ứng trực tiếp yêu cầu nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, chuẩn hóa chất lượng sản phẩm, tăng cường khả năng chia sẻ dữ liệu và thúc đẩy ứng dụng công nghệ số trong mọi lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội. Nếu được xây dựng theo hướng mở, cập nhật công nghệ mới và gắn với hạ tầng dữ liệu quốc gia, đây sẽ là một trong những nền tảng quan trọng để ngành viễn thám Việt Nam chuyển từ cung cấp dữ liệu sang tạo lập tri thức số, phục vụ hiệu quả mục tiêu phát triển bền vững và xây dựng nền kinh tế số trong giai đoạn mới. Nền tảng này cũng phù hợp với mục tiêu của các hồ sơ đề xuất là thiết lập hệ thống yêu cầu kỹ thuật thống nhất, nâng cao chất lượng dữ liệu, bảo đảm khả năng liên thông và tạo cơ sở pháp lý cho quản lý nhà nước đối với hoạt động viễn thám trên phạm vi cả nước. 

Văn phòng Cục Viễn thám quốc gia

Ý kiến

Quy hoạch lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn: Khi dòng sông được quản trị như một hệ sinh thái

Quy hoạch lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn: Khi dòng sông được quản trị như một hệ sinh thái

Có lẽ hiếm có lưu vực sông nào ở miền Trung lại chứa đựng nhiều nghịch lý như Vu Gia – Thu Bồn. Mỗi mùa mưa, lượng nước lớn từ dãy Trường Sơn đổ về gây ngập lụt trên diện rộng, ảnh hưởng đến các đô thị, khu dân cư và vùng sản xuất ở hạ lưu. Thế nhưng chỉ vài tháng sau, chính lưu vực ấy lại đối mặt với tình trạng dòng chảy suy giảm, xâm nhập mặn gia tăng, nhiều khu vực thiếu nước cho sinh hoạt và sản xuất, trong khi các hồ chứa phải tính toán từng mét khối nước để vừa phát điện, vừa cấp nước và duy trì dòng chảy tối thiểu.
Công nghệ viễn thám góp phần đổi mới quản lý vùng sản xuất nông nghiệp

Công nghệ viễn thám góp phần đổi mới quản lý vùng sản xuất nông nghiệp

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới phương thức quản lý nhà nước, ngành Nông nghiệp và Môi trường đang đứng trước yêu cầu phải xây dựng các mô hình quản lý hiện đại dựa trên dữ liệu số, công nghệ số và trí tuệ nhân tạo. Nếu như trước đây hoạt động quản lý vùng sản xuất chủ yếu dựa trên hồ sơ hành chính, kiểm tra thực địa và xác nhận định kỳ thì hiện nay, cùng với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, yêu cầu về minh bạch thông tin, truy xuất nguồn gốc và kiểm chứng quá trình sản xuất theo thời gian đã trở thành tiêu chuẩn bắt buộc đối với nhiều thị trường xuất khẩu. Điều đó đòi hỏi cơ quan quản lý phải có khả năng giám sát khách quan, liên tục và trên diện rộng, đồng thời hình thành được cơ sở dữ liệu số thống nhất phục vụ quản lý, điều hành và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan, địa phương và doanh nghiệp.
Hoàn thiện cơ sở pháp lý, nâng cao hiệu quả giám sát khai thác mỏ lộ thiên bằng công nghệ viễn thám

Hoàn thiện cơ sở pháp lý, nâng cao hiệu quả giám sát khai thác mỏ lộ thiên bằng công nghệ viễn thám

Việc ban hành Thông tư ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật giám sát bằng công nghệ viễn thám đối với một số nội dung, hạng mục trong khai thác mỏ lộ thiên là bước hoàn thiện quan trọng trong hệ thống quy định về ứng dụng công nghệ viễn thám phục vụ quản lý tài nguyên khoáng sản. Nếu Thông tư số 26/2023/TT-BTNMT đã quy định về yêu cầu và quy trình kỹ thuật giám sát bằng công nghệ viễn thám đối với một số nội dung, hạng mục trong khai thác mỏ lộ thiên, thì việc ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật tiếp tục giải quyết một vấn đề có ý nghĩa thực tiễn: xác định cụ thể nguồn lực, khối lượng công việc và chi phí cần thiết để triển khai quy trình đó. Qua đó, tạo cơ sở thống nhất cho việc lập dự toán, xác định đơn giá, quản lý chi phí và nghiệm thu sản phẩm, đồng thời mở rộng khả năng ứng dụng công nghệ số trong quản lý hoạt động khai thác khoáng sản