Sign In

Nghiên cứu về giám sát không gian xanh đô thị phục vụ phát triển thích ứng khí hậu tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh

09:37 20/05/2026

Chọn cỡ chữ A a  

Nghiên cứu “Monitoring urban green space for climate-resilient development in the face of rapid urbanization: A tale of two Vietnamese cities” của Leon Scheiber và cộng sự được công bố trên tạp chí Remote Sensing Applications: Society and Environment đã phân tích sự biến động không gian xanh đô thị (Urban Green Space – UGS) tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh bằng phương pháp viễn thám sử dụng ảnh Sentinel-2 kết hợp dữ liệu dân số. Công trình nhấn mạnh vai trò của không gian xanh trong phát triển đô thị bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu và nâng cao chất lượng sống đô thị.

Theo nhóm tác giả, không gian xanh đô thị có vai trò quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng, điều hòa vi khí hậu, giảm hiệu ứng đảo nhiệt đô thị, hỗ trợ thấm nước và giảm nguy cơ ngập lụt đô thị. Các nghiên cứu trước đây của Swanwick et al. (2003), Haaland & van den Bosch (2015), Kondo et al. (2018) và Aram et al. (2019) đều khẳng định rằng cây xanh đô thị giúp cải thiện sức khỏe thể chất và tinh thần của cư dân đô thị. Ngoài ra, UGS còn đóng vai trò trong hấp thụ carbon và hỗ trợ “phát triển thích ứng khí hậu” (Climate-Resilient Development – CRD) theo Báo cáo đánh giá lần thứ sáu của IPCC (Schipper et al., 2022). 

Nghiên cứu cho biết Việt Nam đã sớm quan tâm đến quy hoạch không gian xanh đô thị thông qua Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9257:2012, trong đó quy định các đô thị đặc biệt cần đạt từ 12–15 m² cây xanh/người nhằm bảo đảm chất lượng môi trường và khả năng sinh sống đô thị. Tuy nhiên, tốc độ đô thị hóa mạnh tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đang làm gia tăng áp lực lên quỹ đất cây xanh, đặc biệt tại khu vực nội đô có mật độ dân cư cao.

Về phương pháp, nghiên cứu sử dụng toàn bộ chuỗi dữ liệu Sentinel-2 Harmonized giai đoạn 2016–2024 trên nền tảng Google Earth Engine để xây dựng bản đồ chỉ số NDVI. 

Trong đó, kênh hồng ngoại gần (NIR) và kênh đỏ (Red) được sử dụng để phản ánh mức độ “xanh” của lớp phủ thực vật. Phương pháp này dựa trên nghiên cứu nền tảng của Rouse et al. (1974) và hiện là chỉ số phổ biến nhất trong giám sát thảm thực vật bằng viễn thám. 

Phân bố không gian các khu vực cây xanh đô thị

Để giảm ảnh hưởng của mây và nhiễu dữ liệu, nhóm nghiên cứu sử dụng bản đồ NDVI-P75, tức giá trị phân vị 75% của NDVI theo năm. Cách tiếp cận này giúp hạn chế các giá trị ngoại lai và phản ánh tốt hơn trạng thái thực vật đô thị ổn định theo thời gian. Sau quá trình kiểm định thực địa tại 15 vị trí mẫu ở mỗi thành phố, nghiên cứu xác định ngưỡng NDVI > 0,4 để phân loại không gian xanh đô thị. 

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự phân hóa rất rõ về phân bố cây xanh giữa trung tâm và vùng ven đô. Tại Hà Nội, các quận trung tâm như Đống Đa và Thanh Xuân có tỷ lệ không gian xanh thấp nhất, lần lượt chỉ khoảng 3,5% và 3,9%, trong khi Bắc Từ Liêm và Hà Đông đạt trên 38%. Tại TP. Hồ Chí Minh, Quận 4 và Quận 6 có tỷ lệ UGS dưới 4%, trong khi khu vực Thủ Đức và Quận 9 có tỷ lệ trên 40%. Các bản đồ phân bố trên trang 6 của bài báo cho thấy xu thế “thiếu xanh” rõ rệt ở lõi đô thị và tập trung cây xanh ở vùng ven. 

Khi kết hợp với dữ liệu dân số Tổng điều tra dân số Việt Nam năm 2019 của Tổng cục Thống kê, nghiên cứu xác định diện tích cây xanh bình quân đầu người tại Hà Nội đạt khoảng 24,22 m²/người, cao hơn TP. Hồ Chí Minh với 17,91 m²/người. Tuy nhiên, tại nhiều quận nội đô, diện tích cây xanh bình quân đầu người giảm xuống dưới 1 m²/người, thấp hơn rất nhiều so với khuyến nghị của WHO và tiêu chuẩn quốc gia Việt Nam. Điều này cho thấy sự mất cân bằng nghiêm trọng giữa phát triển hạ tầng và bảo vệ môi trường đô thị.

Phân tích chuỗi thời gian NDVI giai đoạn 2016–2024 cho thấy TP. Hồ Chí Minh có xu hướng suy giảm mạnh không gian xanh do quá trình phát triển các dự án bất động sản quy mô lớn như Vinhomes Grand Park, Thủ Thiêm New Urban Area hay Celadon City. Trong khi đó, tại Hà Nội, sự suy giảm thực vật tập trung tại khu vực Nam Từ Liêm và Tây Hồ Tây do mở rộng hạ tầng giao thông và xây dựng khu đô thị mới như Vinhomes Smart City hay Starlake Hồ Tây. 

Phân bổ không gian xanh đô thị tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh

Một điểm có giá trị cao của nghiên cứu là tính ứng dụng thực tiễn. Nhóm tác giả nhấn mạnh rằng việc kết hợp dữ liệu Sentinel-2 miễn phí với Google Earth Engine cho phép xây dựng hệ thống giám sát không gian xanh đô thị với chi phí thấp nhưng vẫn đảm bảo tính minh bạch và khả năng tái lập. Phương pháp này có thể được áp dụng rộng rãi tại các quốc gia đang phát triển hoặc các đô thị có tốc độ mở rộng nhanh mà chưa có hệ thống giám sát môi trường đầy đủ.

Đối với Việt Nam, nghiên cứu mở ra nhiều hướng ứng dụng quan trọng. Thứ nhất, có thể mở rộng giám sát không gian xanh tới các đô thị lớn khác như Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ hoặc các hành lang đô thị ven Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Thứ hai, có thể tích hợp thêm dữ liệu nhiệt độ bề mặt đất (LST), dữ liệu chất lượng không khí hoặc dữ liệu ngập lụt để đánh giá đầy đủ hơn vai trò của cây xanh trong thích ứng biến đổi khí hậu. Các nghiên cứu của Dang et al. (2018), Nguyen et al. (2023) và Do et al. (2024) đã cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa không gian xanh và giảm nhiệt đô thị tại TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội. 

Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy tiềm năng tích hợp công nghệ trí tuệ nhân tạo, học máy và dữ liệu viễn thám độ phân giải cao nhằm nâng cao khả năng nhận dạng cây xanh đô thị. Huang et al. (2024) nhận định rằng deep learning đang trở thành xu hướng chủ đạo trong tách chiết không gian xanh từ dữ liệu viễn thám. Đây là hướng nghiên cứu rất phù hợp với định hướng chuyển đổi số ngành tài nguyên và môi trường tại Việt Nam hiện nay.

Tóm lại, nghiên cứu của Scheiber và cộng sự đã chứng minh hiệu quả của công nghệ viễn thám trong giám sát không gian xanh đô thị và cung cấp một phương pháp có tính mở rộng cao cho quản lý đô thị bền vững. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ tại Việt Nam, việc xây dựng hệ thống theo dõi không gian xanh bằng ảnh vệ tinh sẽ là công cụ quan trọng hỗ trợ quy hoạch đô thị, bảo vệ môi trường và nâng cao khả năng chống chịu khí hậu của các thành phố lớn. 

Văn phòng Cục Viễn thám quốc gia

Ý kiến

Công nghệ viễn thám – giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị tài nguyên nước trong Chiến lược đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2075

Công nghệ viễn thám – giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị tài nguyên nước trong Chiến lược đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2075

Sau 20 năm thực hiện Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 81/2006/QĐ-TTg ngày 14/4/2006, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang hoàn thiện một định hướng mới cho quản lý, bảo vệ, khai thác và sử dụng tài nguyên nước trong giai đoạn đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2075. Việc tổng kết chặng đường 20 năm không chỉ nhằm đánh giá những kết quả đã đạt được, mà quan trọng hơn là nhận diện những thay đổi của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và công nghệ để xác lập phương thức quản trị phù hợp với giai đoạn phát triển mới.
Ứng dụng công nghệ viễn thám trong giám sát và bảo tồn rạn san hô xa bờ

Ứng dụng công nghệ viễn thám trong giám sát và bảo tồn rạn san hô xa bờ

Trong bối cảnh hệ sinh thái biển đang chịu tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu, gia tăng nhiệt độ nước biển, biến động môi trường và các hoạt động khai thác tài nguyên, việc theo dõi thường xuyên hiện trạng các rạn san hô có ý nghĩa đặc biệt đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học. Tuy nhiên, đối với các khu vực biển đảo xa bờ, đặc biệt là những vùng có phạm vi rộng như Hoàng Sa và Trường Sa, phương thức điều tra truyền thống bằng khảo sát trực tiếp dưới nước gặp không ít hạn chế về chi phí, thời gian, điều kiện thời tiết, khả năng tiếp cận và phạm vi bao phủ. Đây chính là khoảng trống mà công nghệ viễn thám có thể phát huy ưu thế. Từ yêu cầu đó, Cục Viễn thám quốc gia đang triển khai nhiệm vụ “Sử dụng công nghệ viễn thám giám sát rạn san hô tại các quần đảo trọng điểm xa bờ phục vụ công tác bảo tồn đa dạng sinh học”, với định hướng không chỉ lập bản đồ phân bố rạn san hô mà còn theo dõi các yếu tố môi trường liên quan đến sự sinh trưởng, phân tích biến động theo thời gian và xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý.

Phát huy sức mạnh công nghệ viễn thám, góp phần xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh

Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 2376/QĐ-BNNMT về việc ban hành “Kế hoạch hành động của Bộ Nông nghiệp và Môi trường thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh và Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết”. Kế hoạch là bước cụ thể hóa chủ trương lớn của Trung ương và Chính phủ thành những nhiệm vụ thuộc phạm vi quản lý của Bộ, trong đó khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và dữ liệu được xác định là những nền tảng quan trọng để nâng cao năng lực quản trị tài nguyên, môi trường và không gian biển. Trong tiến trình đó, Cục Viễn thám quốc gia với chức năng quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện các hoạt động về viễn thám có vai trò quan trọng trong xây dựng năng lực quan trắc, giám sát không gian biển bằng công nghệ hiện đại.