Sign In

Phát triển vùng nguyên liệu tập trung – Nền tảng nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của nông, lâm, thủy sản Việt Nam

08:33 04/09/2026

Chọn cỡ chữ A a  

Việc Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 3411/QĐ-BNNMT ngày 24/8/2026 phê duyệt Đề án “Phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản tập trung giai đoạn 2026 - 2030” đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa. Nếu giai đoạn trước tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn ban đầu về hạ tầng và tổ chức sản xuất, thì giai đoạn 2026 - 2030 đặt mục tiêu hình thành các vùng nguyên liệu có quy mô, có thị trường, có tổ chức sản xuất, có doanh nghiệp liên kết và đặc biệt là được quản trị dựa trên dữ liệu số. Đây không đơn thuần là câu chuyện mở rộng diện tích sản xuất, mà sâu xa hơn là tổ chức lại không gian sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản theo chuỗi giá trị, gắn sản xuất với chế biến, logistics, thị trường và các yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, phát triển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đề án được xây dựng trên cơ sở tổng kết những kết quả khá rõ nét của Đề án thí điểm xây dựng vùng nguyên liệu nông, lâm sản đạt chuẩn phục vụ chế biến và tiêu thụ giai đoạn 2022 - 2025. Sau hơn bốn năm triển khai tại 5 vùng nguyên liệu thuộc 11 tỉnh, tổng diện tích vùng nguyên liệu đã đạt khoảng 169.800 ha, tăng 33.800 ha, tương đương 20% so với trước khi triển khai; diện tích có liên kết tiêu thụ với doanh nghiệp đạt gần 121.000 ha, chiếm 71,2%, tăng rất mạnh so với khoảng 17.000 ha ban đầu. Đề án thí điểm cũng góp phần hình thành, củng cố 393 hợp tác xã tham gia vùng nguyên liệu, đào tạo hơn 5.500 lượt cán bộ quản lý và thành viên HTX; hình thành hơn 90 chuỗi liên kết và nâng số doanh nghiệp, nhà máy thu mua, chế biến tham gia từ 11 lên 27 đơn vị. Trong lĩnh vực hạ tầng, 141,38 km đường giao thông đã được nâng cấp, sửa chữa, cùng nhiều cầu, kênh, trạm bơm, cống điều tiết và công trình phục vụ thu gom, sơ chế, bảo quản. Những kết quả này cho thấy một thực tế quan trọng: đầu tư vào vùng nguyên liệu chỉ thực sự tạo ra giá trị khi hạ tầng được đặt trong một chuỗi sản xuất – tiêu thụ có tổ chức.

Vùng trồng Sầu Riêng Tây Nguyên

Từ thực tiễn đó, Đề án giai đoạn 2026 - 2030 xác định khá rõ ba điểm nghẽn cần tập trung giải quyết: hạ tầng giao thông và hạ tầng dùng chung còn thiếu, chưa đồng bộ; năng lực tổ chức sản xuất, quản trị hợp tác xã và quản trị số còn hạn chế; liên kết giữa doanh nghiệp, HTX và người sản xuất chưa bền vững, đồng thời chưa huy động hiệu quả nguồn lực đầu tư tư nhân. Đây là cách tiếp cận đáng chú ý, bởi Đề án không xem “vùng nguyên liệu” đơn thuần là một vùng đất có diện tích sản xuất lớn, mà coi đó là một hệ thống kinh tế có đầy đủ các thành phần từ đất đai, người sản xuất, HTX, hạ tầng, doanh nghiệp, nhà máy chế biến, logistics đến thị trường. Ba điểm nghẽn được xác định tương ứng với ba điều kiện để một vùng nguyên liệu có thể vận hành bền vững: có hạ tầng để lưu thông hàng hóa; có tổ chức để điều phối sản xuất; và có thị trường để biến sản phẩm thành giá trị kinh tế.

Điểm mới quan trọng của Đề án là chuyển từ tư duy “phát triển vùng” theo mục tiêu diện tích sang lựa chọn vùng nguyên liệu dựa trên nhu cầu thị trường và hiệu quả đầu tư. Quan điểm của Đề án nêu rõ vùng nguyên liệu phải dựa trên nhu cầu thị trường, năng lực chế biến, khả năng tiêu thụ và lợi thế so sánh của từng địa phương, từng ngành hàng; không hình thành vùng nguyên liệu bằng quyết định hành chính hoặc xác lập mục tiêu diện tích tách rời nhu cầu thị trường. Nhà nước tập trung đầu tư vào các công trình, nhiệm vụ có tính chất công cộng, thiết yếu và có tác động lan tỏa, không đầu tư thay cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, HTX và người dân. HTX giữ vai trò hạt nhân tổ chức sản xuất, còn doanh nghiệp là chủ thể dẫn dắt thị trường, xác lập tiêu chuẩn, đầu tư chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu.

Cách tiếp cận này có ý nghĩa lớn đối với việc nâng cao hiệu quả đầu tư công. Thay vì phân bổ nguồn lực theo kiểu dàn trải, Đề án đưa ra bộ tiêu chí để lựa chọn vùng nguyên liệu, trong đó xem xét đồng thời sự phù hợp với quy hoạch, thị trường, tổ chức sản xuất, mức độ cấp thiết của hạ tầng, khả năng sẵn sàng đầu tư, mức độ sẵn sàng số hóa và hiệu quả, tính bền vững. Vùng nguyên liệu chỉ được xem xét đưa vào danh mục hỗ trợ khi đạt từ 70/100 điểm trở lên, không có nhóm tiêu chí dưới mức tối thiểu và đồng thời đáp ứng các điều kiện bắt buộc như có doanh nghiệp tham gia liên kết tiêu thụ, có HTX hoặc tổ chức đại diện người sản xuất, có khả năng bố trí vốn đối ứng và không trùng lặp với các chương trình, dự án khác.

Đáng chú ý, khoảng 250 - 300 vùng nguyên liệu trên cả nước được xác định là nguồn vùng có tiềm năng để rà soát, đánh giá và lựa chọn, chứ không phải tất cả đều mặc nhiên được hỗ trợ. Điều này cho thấy Đề án đã cố gắng thiết lập một “bộ lọc” trước khi ngân sách nhà nước được đưa vào. Đây cũng là tiền đề để ứng dụng mạnh các công cụ phân tích không gian, trong đó có hệ thống thông tin địa lý và viễn thám, nhằm hỗ trợ đánh giá khách quan hiện trạng vùng nguyên liệu, mức độ tập trung sản xuất, sự phù hợp với quy hoạch, khả năng kết nối hạ tầng và những biến động trong quá trình thực hiện.

Về mục tiêu, Đề án đặt ra những chỉ tiêu tương đối cụ thể đến năm 2030: ưu tiên phát triển vùng nguyên liệu đối với các ngành hàng chủ lực như lúa gạo, cây ăn quả, cây công nghiệp, gỗ rừng trồng, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản; phấn đấu giảm tối thiểu 10% chi phí vận chuyển, 10 - 15% thời gian thu gom và 8 - 10% hao hụt sau thu hoạch. Trên 80% HTX, tổ hợp tác tham gia được hỗ trợ đào tạo, nâng cao năng lực; trên 70% vùng nguyên liệu được hỗ trợ hoàn thành bản đồ số và chuẩn hóa dữ liệu cơ bản; tối thiểu 60% diện tích được hỗ trợ áp dụng nhật ký sản xuất điện tử, quản lý mã số và truy xuất nguồn gốc; khoảng 70% vùng nguyên liệu có HTX tổ chức sản xuất và có ít nhất một doanh nghiệp hoặc cơ sở tiêu thụ ký hợp đồng liên kết; tối thiểu 60% sản lượng được tiêu thụ thông qua hợp đồng. Đề án đồng thời đặt mục tiêu tăng tối thiểu 10% doanh thu của HTX, tổ hợp tác và 10% thu nhập của thành viên, người sản xuất so với trước khi thực hiện.

Nếu nhìn từ góc độ phát triển kinh tế - xã hội, những mục tiêu trên có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi một chương trình hỗ trợ sản xuất nông nghiệp. Trước hết, vùng nguyên liệu tập trung tạo điều kiện chuyển nền sản xuất từ nhỏ lẻ, phân tán sang sản xuất hàng hóa có tổ chức. Khi sản xuất được tổ chức theo vùng, doanh nghiệp có thể chủ động hơn về nguồn cung, sản lượng và chất lượng; HTX có thể điều phối lịch thời vụ, vật tư, kỹ thuật và thu hoạch; người sản xuất có cơ sở để ký hợp đồng tiêu thụ và tiếp cận dịch vụ đầu vào. Đây chính là nền tảng để giảm chi phí giao dịch trong nông nghiệp và nâng cao khả năng tham gia các chuỗi cung ứng quy mô lớn.

Thứ hai, vùng nguyên liệu là điểm kết nối trực tiếp giữa sản xuất nông nghiệp và công nghiệp chế biến. Khi doanh nghiệp tham gia ngay từ khâu xác định sản phẩm, tiêu chuẩn, quy mô, phương thức thu mua và yêu cầu đầu tư, sản xuất sẽ giảm được tình trạng “được mùa mất giá” hoặc sản xuất không phù hợp nhu cầu thị trường. Đề án vì vậy không đặt trọng tâm vào việc Nhà nước trực tiếp đầu tư các nhà máy hay cơ sở kinh doanh, mà sử dụng đầu tư công như một nguồn “vốn mồi” để giải quyết các điểm nghẽn về hạ tầng và dữ liệu, từ đó tạo điều kiện thu hút doanh nghiệp đầu tư vào thu gom, sơ chế, chế biến, bảo quản và logistics. Kinh nghiệm giai đoạn 2022 - 2025 đã cho thấy những công trình hạ tầng có tính kết nối, phục vụ nhiều hộ sản xuất và gắn trực tiếp với cơ sở chế biến, thị trường thường tạo tác động lan tỏa cao hơn.

Thứ ba, phát triển vùng nguyên liệu có thể trở thành động lực quan trọng cho kinh tế nông thôn. Khi HTX được củng cố, doanh nghiệp được thu hút, hạ tầng được nâng cấp và sản phẩm được đưa vào chuỗi chế biến – tiêu thụ, giá trị gia tăng không chỉ nằm ở khâu sản xuất mà còn được phân bổ cho các hoạt động dịch vụ, logistics, sơ chế, bảo quản và chế biến tại địa phương. Điều đó tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập, tăng năng lực kinh doanh của HTX và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Chính Đề án cũng xác định hiệu quả cần được đánh giá không chỉ bằng khối lượng vốn đã đầu tư, mà bằng mức giảm chi phí vận chuyển, giảm tổn thất sau thu hoạch, tăng tỷ lệ tiêu thụ theo hợp đồng, tăng doanh thu HTX và thu nhập người sản xuất.

Một thay đổi có tính nền tảng khác là lần đầu tiên yêu cầu “quản trị vùng nguyên liệu bằng dữ liệu” được đặt khá rõ trong cấu trúc của Đề án. Bản đồ số và cơ sở dữ liệu vùng nguyên liệu không còn được nhìn như một sản phẩm công nghệ bổ trợ, mà trở thành một bộ phận của phương thức quản lý. Đề án yêu cầu chuẩn hóa dữ liệu về chủ thể sản xuất, diện tích, sản lượng, mùa vụ, chất lượng, mã số vùng trồng, vùng nuôi; số hóa nhật ký sản xuất, vật tư đầu vào, quy trình sản xuất, thu hoạch và truy xuất nguồn gốc; đồng thời kết nối, chia sẻ dữ liệu với cơ sở dữ liệu và nền tảng dùng chung của Bộ và địa phương.

Đây chính là không gian mà công nghệ viễn thám có thể đóng góp rất rõ nét. Cần nhấn mạnh rằng Đề án không quy định một nhiệm vụ riêng mang tên “ứng dụng viễn thám”, nhưng các yêu cầu về bản đồ số, cơ sở dữ liệu không gian, giám sát diện tích, sản lượng, hiệu quả đầu tư, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu tạo ra một nhu cầu rất lớn đối với dữ liệu quan trắc Trái đất. Viễn thám có ưu thế đặc biệt ở khả năng quan sát trên diện rộng, lặp lại theo thời gian và cung cấp thông tin khách quan về biến động bề mặt. Nếu được tích hợp với GIS, dữ liệu điều tra hiện trường và cơ sở dữ liệu chuyên ngành, viễn thám có thể trở thành một lớp dữ liệu quan trọng trong hệ thống quản trị vùng nguyên liệu quốc gia.

Trước hết, viễn thám có thể hỗ trợ xây dựng và cập nhật bản đồ số vùng nguyên liệu. Với các vùng lúa, cây ăn quả, cây công nghiệp, rừng trồng hoặc nuôi trồng thủy sản, ảnh vệ tinh có thể được xử lý để xác định và cập nhật phạm vi không gian sản xuất, theo dõi biến động diện tích, phát hiện khu vực mở rộng hoặc thu hẹp vùng nguyên liệu. Thông tin này có thể được liên kết với dữ liệu HTX, hộ sản xuất, mã số vùng trồng, mã số vùng nuôi và các thông tin về hợp đồng liên kết. Khi đó, bản đồ số không chỉ là một lớp bản đồ tĩnh thể hiện ranh giới vùng, mà trở thành “bản đồ sống” phản ánh sự thay đổi của vùng nguyên liệu theo thời gian.

Thứ hai, viễn thám có thể hỗ trợ kiểm chứng và giám sát hiện trạng sản xuất. Một trong những yêu cầu của Đề án là dữ liệu phải được cập nhật và kiểm chứng; các chỉ tiêu phải có khả năng so sánh trước và sau đầu tư. Với chuỗi ảnh vệ tinh đa thời gian, cơ quan quản lý có thể xây dựng đường cơ sở về diện tích, hiện trạng sử dụng đất, tình trạng sản xuất trước khi dự án được triển khai và tiếp tục theo dõi sau đầu tư. Đây là cơ sở để hạn chế tình trạng số liệu diện tích chỉ được cập nhật theo báo cáo hành chính mà thiếu một phương thức kiểm chứng độc lập trên không gian thực tế.

Thứ ba, viễn thám có thể hỗ trợ theo dõi mùa vụ và ước tính sản lượng đối với một số ngành hàng có đặc trưng phổ và chu kỳ sinh trưởng đủ rõ. Các chỉ số thực vật, chuỗi thời gian ảnh vệ tinh và mô hình kết hợp dữ liệu khí tượng, đất đai, điều tra thực địa có thể giúp theo dõi diễn biến sinh trưởng, phát hiện bất thường và hỗ trợ ước tính năng suất, sản lượng. Đối với các vùng nguyên liệu quy mô lớn, đây sẽ là nguồn thông tin quan trọng phục vụ kế hoạch thu mua, sơ chế, chế biến và logistics. Cần lưu ý rằng viễn thám không nên được coi là công cụ thay thế hoàn toàn điều tra thống kê hoặc dữ liệu sản xuất của HTX; hiệu quả cao nhất đạt được khi viễn thám đóng vai trò lớp dữ liệu quan sát độc lập để kiểm chứng, cập nhật và bổ sung cho dữ liệu tại cơ sở.

 

Thứ tư, viễn thám có thể hỗ trợ giám sát hiệu quả đầu tư hạ tầng vùng nguyên liệu. Đề án yêu cầu mỗi dự án phải xác định đường cơ sở về hiện trạng, chiều dài, tải trọng, số hộ, HTX, diện tích, sản lượng và chi phí vận chuyển; đồng thời phải đánh giá kết quả sau đầu tư. Đây là một bài toán không gian điển hình. Khi kết hợp bản đồ vùng nguyên liệu với mạng lưới đường giao thông, cầu, kênh, trạm bơm, điểm thu gom, cơ sở sơ chế, chế biến và các đầu mối logistics, hệ thống GIS có thể xác định phạm vi phục vụ của từng công trình, số lượng hộ và diện tích được hưởng lợi, khoảng cách đến cơ sở thu mua, cũng như những khu vực còn là “điểm nghẽn” về kết nối. Dữ liệu viễn thám có thể bổ sung thông tin hiện trạng mặt đường, thay đổi sử dụng đất, ngập úng hoặc các biến động khác ảnh hưởng đến khả năng khai thác hạ tầng.

Thứ năm, viễn thám có thể trở thành công cụ quan trọng để giám sát rủi ro thiên tai, biến đổi khí hậu và môi trường vùng nguyên liệu. Đề án yêu cầu các vùng được lựa chọn phải bảo đảm yêu cầu môi trường, an toàn thực phẩm và thích ứng khí hậu; đồng thời hiệu quả xã hội và môi trường phải được xem xét thông qua sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải và thích ứng với biến đổi khí hậu. Với dữ liệu viễn thám, có thể theo dõi ngập lụt, hạn hán, biến động mặt nước, suy giảm thảm thực vật, thay đổi sử dụng đất, mất rừng hoặc các dấu hiệu suy thoái môi trường. Đối với rừng trồng nguyên liệu, đây còn là cơ sở để theo dõi biến động diện tích rừng, tình trạng che phủ và hỗ trợ quản lý nguồn nguyên liệu gỗ bền vững.

Từ những yêu cầu trên, một hướng đi có tính thực tiễn là xây dựng hệ thống giám sát vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản bằng công nghệ viễn thám và GIS, tích hợp với cơ sở dữ liệu vùng nguyên liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Hệ thống này có thể tổ chức theo ba lớp chính: lớp dữ liệu không gian nền và quy hoạch; lớp dữ liệu vùng nguyên liệu, HTX, hộ sản xuất, mã số vùng trồng/vùng nuôi, mùa vụ, sản lượng và hợp đồng; lớp dữ liệu quan trắc viễn thám và các chỉ số giám sát theo thời gian. Trên nền tảng đó có thể hình thành các bảng điều khiển phục vụ quản lý, cho phép cơ quan trung ương và địa phương theo dõi diện tích vùng nguyên liệu, biến động mùa vụ, tình trạng sản xuất, tiến độ số hóa, rủi ro thiên tai, hiệu quả đầu tư và những khu vực cần kiểm tra thực địa.

Đặc biệt, có thể đề xuất một số nhiệm vụ cụ thể cho lĩnh vực viễn thám trong quá trình triển khai Đề án. Một là xây dựng bộ dữ liệu nền viễn thám vùng nguyên liệu cho các vùng được lựa chọn, cập nhật định kỳ từ ảnh vệ tinh đa thời gian. Hai là xây dựng bản đồ hiện trạng và biến động vùng nguyên liệu, trước mắt tập trung vào các ngành hàng ưu tiên như lúa gạo, cây ăn quả, cây công nghiệp, rừng trồng và nuôi trồng thủy sản. Ba là phát triển hệ thống giám sát biến động diện tích và mùa vụ, tự động phát hiện những thay đổi bất thường để phục vụ kiểm tra, xác minh. Bốn là xây dựng cơ chế kiểm chứng dữ liệu diện tích và hiện trạng vùng nguyên liệu phục vụ cấp, quản lý mã số vùng trồng, vùng nuôi và truy xuất nguồn gốc ở những ngành hàng có yêu cầu. Năm là xây dựng bộ chỉ số viễn thám phục vụ đánh giá hiệu quả và rủi ro vùng nguyên liệu, bao gồm biến động diện tích, tình trạng sinh trưởng, mức độ ảnh hưởng của thiên tai, biến động mặt nước, che phủ thực vật và một số chỉ tiêu môi trường phù hợp từng ngành hàng.

Sáu là triển khai mô hình thí điểm giám sát một số vùng nguyên liệu trọng điểm, qua đó chuẩn hóa quy trình từ thu nhận ảnh, xử lý, phân tích, kiểm chứng thực địa đến cập nhật cơ sở dữ liệu. Bảy là xây dựng cơ chế tích hợp dữ liệu viễn thám với cơ sở dữ liệu vùng nguyên liệu và nền tảng số dùng chung của Bộ, tránh hình thành thêm các hệ thống riêng lẻ. Đây là điểm đặc biệt quan trọng bởi chính Đề án đã yêu cầu việc xây dựng và quản lý dữ liệu phải sử dụng, kết nối và chia sẻ với cơ sở dữ liệu dùng chung, không đầu tư các hệ thống, phần mềm hoặc cơ sở dữ liệu trùng lặp.

Một nhiệm vụ có ý nghĩa lâu dài hơn là xây dựng cơ chế giám sát vùng nguyên liệu dựa trên dữ liệu đa nguồn, trong đó viễn thám đóng vai trò lớp dữ liệu quan sát không gian; dữ liệu HTX và địa phương cung cấp thông tin chủ thể và sản xuất; dữ liệu doanh nghiệp cung cấp thông tin thu mua, chế biến và tiêu thụ; dữ liệu khí tượng, thủy văn và môi trường cung cấp thông tin về điều kiện sản xuất. Khi các nguồn dữ liệu này được liên kết, cơ quan quản lý có thể chuyển từ phương thức “báo cáo tình hình” sang “quan sát – phân tích – cảnh báo – kiểm chứng – quyết định”. Đây chính là bước phát triển cao hơn của quản trị số vùng nguyên liệu.

Định hướng này cũng phù hợp với cấu trúc giám sát, đánh giá mà Đề án đã đặt ra. Việc giám sát không chỉ xem xét tiến độ thực hiện, mà bao gồm kết quả phát triển vùng nguyên liệu, tổ chức lại sản xuất, phát triển HTX, liên kết chuỗi giá trị, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, xây dựng và khai thác cơ sở dữ liệu, quản lý mã số vùng trồng, vùng nuôi, truy xuất nguồn gốc, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Các chỉ tiêu được theo dõi theo Khung logic và Bộ chỉ số của Đề án, được cập nhật, quản lý và kiểm chứng thông qua cơ sở dữ liệu vùng nguyên liệu và các nguồn dữ liệu hợp pháp khác.

Có thể nói, giá trị lớn nhất của Đề án 2026 - 2030 không nằm ở một con số diện tích vùng nguyên liệu được hình thành, mà ở việc tạo dựng một phương thức phát triển mới: Nhà nước kiến tạo hạ tầng và thể chế; HTX tổ chức sản xuất; doanh nghiệp dẫn dắt thị trường; người dân là chủ thể; dữ liệu là nền tảng quản trị. Nếu thực hiện đúng tinh thần này, vùng nguyên liệu sẽ không còn là những vùng sản xuất được xác định chủ yếu trên bản đồ hành chính, mà trở thành những không gian kinh tế có tổ chức, có dữ liệu, có dòng sản phẩm, có dòng vốn và có thị trường.

Trong cấu trúc đó, viễn thám cần được nhìn nhận không chỉ là một công nghệ cung cấp ảnh vệ tinh, mà là một hạ tầng dữ liệu quan sát không gian phục vụ quản trị vùng nguyên liệu. Cơ hội lớn nhất của lĩnh vực viễn thám là tham gia ngay từ khâu lựa chọn vùng, xây dựng đường cơ sở, lập bản đồ số, theo dõi quá trình sản xuất đến đánh giá hiệu quả sau đầu tư. Nếu được tích hợp với cơ sở dữ liệu ngành và hệ thống GIS dùng chung, dữ liệu viễn thám có thể giúp trả lời những câu hỏi rất cụ thể của Đề án: vùng nguyên liệu thực tế nằm ở đâu, diện tích bao nhiêu, biến động thế nào, sản xuất có đúng quy hoạch không, mùa vụ diễn biến ra sao, khu vực nào chịu tác động của thiên tai, công trình đầu tư công phục vụ được bao nhiêu diện tích và bao nhiêu hộ, vùng nguyên liệu có được duy trì sau đầu tư hay không.

Đây cũng là hướng để Cục Viễn thám quốc gia có thể xác lập vai trò rõ hơn trong hệ sinh thái dữ liệu nông nghiệp và môi trường giai đoạn mới. Thay vì chỉ cung cấp sản phẩm ảnh hoặc bản đồ theo từng nhiệm vụ, có thể chuyển sang cung cấp các dịch vụ thông tin viễn thám phục vụ quản trị, với sản phẩm đầu ra được thiết kế trực tiếp theo chỉ tiêu quản lý của Đề án. Khi đó, hiệu quả của công nghệ không được đo bằng số cảnh ảnh đã xử lý hay số bản đồ đã thành lập, mà bằng khả năng giúp cơ quan quản lý cập nhật dữ liệu nhanh hơn, kiểm chứng khách quan hơn, phát hiện biến động sớm hơn và phân bổ nguồn lực chính xác hơn.

Đề án phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản tập trung giai đoạn 2026 - 2030 vì thế có thể xem là một bước chuyển từ “phát triển vùng sản xuất” sang “quản trị chuỗi giá trị theo không gian và dữ liệu”. Thành công của Đề án sẽ góp phần giảm chi phí logistics, nâng cao giá trị nông sản, tăng thu nhập cho người sản xuất, củng cố kinh tế tập thể, thúc đẩy công nghiệp chế biến và nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam. Nhưng để những mục tiêu đó được đo lường minh bạch và điều hành hiệu quả trên quy mô cả nước, dữ liệu không gian và khả năng quan sát liên tục từ vệ tinh sẽ ngày càng trở thành một thành phần không thể thiếu. Đây chính là dư địa lớn để công nghệ viễn thám chuyển từ vai trò hỗ trợ kỹ thuật sang một công cụ quan trọng trong quản trị phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản hiện đại.

Văn phòng Cục Viễn thám quốc gia

Ý kiến

Ứng dụng công nghệ viễn thám và các phương pháp số trong đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng

Ứng dụng công nghệ viễn thám và các phương pháp số trong đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng

Tóm tắt: Biến đổi khí hậu đang làm gia tăng mức độ và tính phức tạp của các hiện tượng cực đoan tại vùng Đồng bằng sông Hồng, đồng thời tác động ngày càng rõ đến tài nguyên đất, tài nguyên nước và tài nguyên rừng. Trong khi đó, các phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương hiện nay còn phụ thuộc nhiều vào số liệu thống kê, điều tra thực địa và phương pháp chồng xếp bản đồ với trọng số chuyên gia, nên khó đáp ứng yêu cầu đánh giá liên tục, đa thời gian và trên phạm vi không gian rộng. Bài báo trình bày cách tiếp cận ứng dụng dữ liệu viễn thám đa thời gian kết hợp hệ thống thông tin địa lý (GIS), trí tuệ nhân tạo (AI), học máy, dữ liệu khí tượng - thủy văn và các mô hình số để đánh giá tác động, mức độ dễ bị tổn thương của hệ thống tự nhiên vùng Đồng bằng sông Hồng. Phương pháp nghiên cứu được xây dựng trên ba nhóm công nghệ: thành lập dữ liệu bằng AI kết hợp viễn thám đa thời gian; xử lý dữ liệu viễn thám và phân tích không gian; tích hợp dữ liệu viễn thám với dữ liệu điều tra, quan trắc và mô hình chuyên ngành. Trên cơ sở đó, các mô hình mô phỏng lũ, xâm nhập mặn, ngập lụt đô thị, nước dâng do bão và hạn hán được tích hợp với khung đánh giá phơi bày - nhạy cảm - năng lực thích ứng/phục hồi. Kết quả dự kiến là hệ thống cơ sở dữ liệu không gian - thời gian, các bản đồ phân cấp tính dễ bị tổn thương, bộ dữ liệu cảnh báo và WebGIS hỗ trợ quản lý, giám sát và đề xuất giải pháp thích ứng. Cách tiếp cận này góp phần chuyển dịch từ đánh giá đơn ngành, tĩnh và phụ thuộc nhiều vào số liệu thống kê sang đánh giá đa nguồn, đa thời gian, dựa trên dữ liệu và có khả năng cập nhật. Từ khóa: viễn thám; trí tuệ nhân tạo; GIS; biến đổi khí hậu; tính dễ bị tổn thương; Đồng bằng sông Hồng; tài nguyên đất; tài nguyên nước; tài nguyên rừng.
Đột phá khoa học, công nghệ viễn thám trước yêu cầu mới: Từ chương trình nghiên cứu đến năng lực công nghệ quốc gia

Đột phá khoa học, công nghệ viễn thám trước yêu cầu mới: Từ chương trình nghiên cứu đến năng lực công nghệ quốc gia

Chương trình phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo lĩnh vực viễn thám giai đoạn 2026–2030 do Cục Viễn thám quốc gia xây dựng, trình Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét ban hành, được đặt trong một thời điểm có ý nghĩa đặc biệt: khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở thành động lực phát triển quốc gia, trong khi công nghệ viễn thám trên thế giới đang chuyển rất nhanh từ xử lý ảnh chuyên biệt sang nền tảng dữ liệu địa không gian, trí tuệ nhân tạo và các hệ thống giám sát thông minh. Đây không chỉ là một chương trình nghiên cứu khoa học của một lĩnh vực kỹ thuật, mà đang đặt nền móng cho việc hình thành năng lực công nghệ viễn thám mới, phục vụ quản trị tài nguyên, môi trường, nông nghiệp, thiên tai và phát triển bền vững.

Nghiên cứu giải pháp xử lý khối dữ liệu ảnh viễn thám lớn ở quy mô quốc gia bằng công nghệ tính toán hiệu năng cao

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã công nhận kết quả thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ “Nghiên cứu, xây dựng quy trình xử lý khối dữ liệu ảnh viễn thám lớn ở quy mô quốc gia từ đa nguồn dữ liệu viễn thám độ phân giải cao và siêu cao phù hợp với điều kiện Việt Nam”, mã số TNMT.ĐL.2024.01. Đề tài do Đài Viễn thám Quốc gia, Cục Viễn thám Quốc gia chủ trì, ThS. Lưu Thị Phương Mai làm chủ nhiệm.