Sign In

Xây dựng và ban hành Quy trình nội bộ cung cấp thông tin, dữ liệu ảnh viễn thám

00:00 05/10/2026

Chọn cỡ chữ A a  

Thực hiện chủ trương cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng dữ liệu, Cục Viễn thám quốc gia đang xây dựng Quy trình nội bộ cung cấp thông tin, dữ liệu ảnh viễn thám nhằm thống nhất trình tự phối hợp giữa các đơn vị thuộc Cục trong việc tiếp nhận, xử lý và cung cấp thông tin, dữ liệu cho cơ quan, tổ chức và cá nhân có nhu cầu.

Việc xây dựng Quy trình nội bộ được thực hiện trong bối cảnh phương thức cung cấp thông tin, dữ liệu ảnh viễn thám có sự thay đổi. Trước đây, hoạt động này được tổ chức theo quy trình giải quyết thủ tục hành chính trên cơ sở Quyết định số 764/QĐ-BNNMT ngày 11 tháng 4 năm 2025 và Quyết định số 3490/QĐ-BNNMT ngày 28 tháng 8 năm 2025. Quy trình cũ bao gồm các bước tiếp nhận hồ sơ tại Bộ phận Một cửa, kiểm tra yêu cầu, chuyển đơn vị chuyên môn tra cứu dữ liệu, xác định mức phí và trả kết quả cho tổ chức, cá nhân. 

Sau khi Bộ Nông nghiệp và Môi trường thực hiện cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính lĩnh vực viễn thám theo Quyết định số 2097/QĐ-BNNMT ngày 02 tháng 6 năm 2026, yêu cầu đặt ra là cần xây dựng một quy trình nội bộ mới phù hợp với phương thức quản lý và cung cấp dữ liệu hiện nay. Dự thảo Quyết định của Cục Viễn thám quốc gia vì vậy xác định căn cứ trực tiếp gồm pháp luật về hoạt động viễn thám, Luật Dữ liệu và văn bản hướng dẫn, Luật Tiếp cận thông tin và Quyết định số 2097/QĐ-BNNMT. 

Sự cần thiết xây dựng Quy trình nội bộ

Việc cắt giảm thủ tục hành chính không đồng nghĩa với chấm dứt hoạt động cung cấp thông tin, dữ liệu ảnh viễn thám. Ngược lại, yêu cầu cung cấp dữ liệu vẫn phải được tiếp nhận và xử lý thường xuyên để phục vụ quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu hợp pháp khác.

Do không còn thực hiện theo cơ chế một thủ tục hành chính chuyên ngành như trước, cần có một quy trình nội bộ để xác định rõ đơn vị đầu mối, trách nhiệm phối hợp, trình tự tra cứu dữ liệu, xử lý yêu cầu và cung cấp kết quả.

Dự thảo Quy trình xác định mục đích là quy định trình tự phối hợp, xử lý nội bộ giữa các đơn vị thuộc Cục Viễn thám quốc gia trong việc xử lý yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu ảnh viễn thám cho người sử dụng. Việc cung cấp phải tuân thủ pháp luật về tiếp cận thông tin, dữ liệu, bảo vệ bí mật nhà nước, bảo vệ dữ liệu cá nhân, an toàn thông tin và quyền khai thác, sử dụng dữ liệu. 

Như vậy, Quy trình được xây dựng không nhằm hình thành một thủ tục hành chính mới mà nhằm chuẩn hóa hoạt động phối hợp nội bộ của Cục Viễn thám quốc gia sau khi thủ tục hành chính trước đây được cắt giảm, đơn giản hóa.

Xây dựng quy trình theo hướng rõ đầu mối, rõ trách nhiệm

Dự thảo Quy trình được xây dựng theo nguyên tắc phân công rõ trách nhiệm giữa Văn phòng Cục, Phòng Cơ sở hạ tầng viễn thám, Đài Viễn thám quốc gia, Lãnh đạo Cục và các đơn vị có liên quan.

Văn phòng Cục thực hiện tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu, cập nhật và luân chuyển yêu cầu trên Hệ thống hồ sơ công việc.

Phòng Cơ sở hạ tầng viễn thám là đầu mối chuyên môn, có trách nhiệm kiểm tra nội dung yêu cầu, xác định phạm vi, loại thông tin và dữ liệu cần cung cấp; phân luồng xử lý và phối hợp làm rõ nội dung trong trường hợp yêu cầu chưa đầy đủ hoặc chưa rõ. 

Đài Viễn thám quốc gia thực hiện tra cứu, khai thác dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia, dữ liệu lưu trữ và các nguồn dữ liệu thuộc phạm vi quản lý; chuẩn bị thông tin, dữ liệu đáp ứng yêu cầu và xác định nghĩa vụ tài chính liên quan nếu có. 

Phòng Cơ sở hạ tầng viễn thám sau đó tổng hợp kết quả, dự thảo văn bản trả lời; Lãnh đạo Cục xem xét, ký ban hành và Văn phòng Cục thực hiện phát hành, gửi kết quả cho người sử dụng.

Quy trình xử lý được thiết kế theo các bước liên tục

Dự thảo đang xây dựng quy trình theo chuỗi xử lý cơ bản:

Tiếp nhận yêu cầu → kiểm tra, xác định phạm vi dữ liệu → tra cứu, chuẩn bị dữ liệu → tổng hợp, hoàn thiện văn bản → ký ban hành và cung cấp kết quả.

Trong đó, sơ đồ dự thảo phân chia trách nhiệm và thời gian xử lý tương ứng cho từng đơn vị. Bước đầu tiên do Văn phòng Cục tiếp nhận; bước kiểm tra và phân luồng do Phòng Cơ sở hạ tầng viễn thám thực hiện; việc tra cứu, chuẩn bị dữ liệu do Đài Viễn thám quốc gia thực hiện; các bước hoàn thiện, ký và phát hành kết quả do Phòng Cơ sở hạ tầng viễn thám, Lãnh đạo Cục và Văn phòng Cục phối hợp thực hiện. QT_CCTTDLAVT_noibo_v2

Cách thiết kế này kế thừa những nội dung hợp lý của quy trình trước đây nhưng loại bỏ các bước gắn với cơ chế giải quyết thủ tục hành chính như tiếp nhận hồ sơ thủ tục tại Bộ phận Một cửa, lập Phiếu tiếp nhận và hẹn trả kết quả hay xử lý trên quy trình dịch vụ công chuyên biệt.

Gắn với Cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia

Một nội dung quan trọng trong xây dựng Quy trình là gắn việc cung cấp thông tin, dữ liệu với khai thác Cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia.

Dự thảo quy định Đài Viễn thám quốc gia thực hiện tra cứu, khai thác thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia, dữ liệu lưu trữ và các nguồn dữ liệu thuộc phạm vi quản lý. Đây là cơ sở để chuyển dần từ phương thức xử lý hồ sơ hành chính sang phương thức khai thác, cung cấp và chia sẻ dữ liệu trên môi trường số. 

Trong quá trình hoàn thiện Quy trình, yêu cầu đặt ra là phải bảo đảm sự thống nhất giữa quy trình tổ chức nội bộ và hạ tầng kỹ thuật của Cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia; từng bước tăng khả năng tra cứu trực tuyến, tái sử dụng thông tin, kết nối và chia sẻ dữ liệu.

Mục tiêu của việc ban hành Quy trình

Sau khi được hoàn thiện và ban hành, Quy trình nội bộ sẽ tạo cơ sở thống nhất cho các đơn vị thuộc Cục Viễn thám quốc gia trong xử lý yêu cầu cung cấp dữ liệu.

Quy trình hướng tới ba mục tiêu chính: bảo đảm yêu cầu của người sử dụng được tiếp nhận và xử lý thông suốt; xác định rõ trách nhiệm và thời gian xử lý của từng đơn vị; đồng thời bảo đảm việc cung cấp dữ liệu tuân thủ các quy định của pháp luật về dữ liệu, tiếp cận thông tin, an toàn thông tin và các nghĩa vụ tài chính có liên quan.

Dự thảo cũng xác định Phòng Cơ sở hạ tầng viễn thám là đầu mối chủ trì, theo dõi và tổng hợp tình hình thực hiện; Đài Viễn thám quốc gia chịu trách nhiệm tra cứu, chuẩn bị dữ liệu; Văn phòng Cục tiếp nhận, phát hành và lưu trữ; các đơn vị khác phối hợp theo chức năng được giao. 

Việc xây dựng và ban hành Quy trình nội bộ cung cấp thông tin, dữ liệu ảnh viễn thám là yêu cầu cần thiết để tổ chức lại hoạt động cung cấp dữ liệu sau khi thủ tục hành chính lĩnh vực viễn thám được cắt giảm, đơn giản hóa. Quy trình được xây dựng theo hướng không hình thành thêm thủ tục hành chính mà tập trung quy định trình tự phối hợp nội bộ, trách nhiệm của từng đơn vị và phương thức xử lý yêu cầu cung cấp dữ liệu.

Sau khi được ban hành, Quy trình sẽ góp phần bảo đảm hoạt động cung cấp thông tin, dữ liệu ảnh viễn thám được thực hiện liên tục, thống nhất và minh bạch; đồng thời tạo cơ sở để đẩy mạnh khai thác Cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia, tăng cường cung cấp dữ liệu trên môi trường số và nâng cao chất lượng phục vụ cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Attachments:

Nguyễn Văn Hùng

Ý kiến

Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố 10 thủ tục hành chính nội bộ về thi đua, khen thưởng

Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố 10 thủ tục hành chính nội bộ về thi đua, khen thưởng

Quyết định số 3810/QĐ-BNNMT ngày 6/10/2026 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố danh mục và nội dung 10 thủ tục hành chính nội bộ trong công tác thi đua, khen thưởng. Quyết định góp phần thống nhất đầu mối, trình tự, thành phần hồ sơ và trách nhiệm giải quyết trong toàn Bộ; đồng thời giúp các cơ quan, đơn vị chủ động hơn khi đề nghị khen thưởng, xử lý các yêu cầu liên quan đến hiện vật, thông tin khen thưởng và công nhận sáng kiến, nhiệm vụ khoa học. Quyết định có hiệu lực từ ngày 1/10/2026 và bãi bỏ Quyết định số 2076/QĐ-BNNMT ngày 1/6/2026 về công bố thủ tục hành chính nội bộ trong lĩnh vực này. Các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ cần rà soát quy trình đang áp dụng, cập nhật biểu mẫu và tổ chức thực hiện theo danh mục, nội dung thủ tục mới được công bố.
Viễn thám kết hợp trí tuệ nhân tạo: Từ nền tảng dữ liệu đến năng lực cung cấp thông tin phục vụ quản lý

Viễn thám kết hợp trí tuệ nhân tạo: Từ nền tảng dữ liệu đến năng lực cung cấp thông tin phục vụ quản lý

Trong tiến trình chuyển đổi số và phát triển khoa học, công nghệ, viễn thám đang đứng trước một bước chuyển quan trọng: từ cung cấp dữ liệu ảnh sang cung cấp thông tin, tri thức và các sản phẩm hỗ trợ ra quyết định. Trí tuệ nhân tạo (AI) đang tạo thêm năng lực để thực hiện sự chuyển đổi đó. Với Việt Nam, vấn đề hiện nay không còn là có nên ứng dụng AI trong viễn thám hay không, mà là làm thế nào để hình thành được một hệ sinh thái viễn thám – AI có dữ liệu đủ tốt, hạ tầng đủ mạnh, mô hình đủ tin cậy và sản phẩm thực sự được đưa vào quy trình quản lý. Trong quá trình đó, Cục Viễn thám quốc gia có vai trò quan trọng trong định hướng, dẫn dắt, tổ chức phát triển và đưa các kết quả nghiên cứu, công nghệ vào ứng dụng thực tiễn.
Ngày 28/8/2026, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Thông tư số 36/2026/TT-BNNMT ngày 28/8/2026 quy định Định mức kinh tế - kỹ thuật vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu ảnh viễn thám quốc gi

Ngày 28/8/2026, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Thông tư số 36/2026/TT-BNNMT ngày 28/8/2026 quy định Định mức kinh tế - kỹ thuật vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu ảnh viễn thám quốc gi

Định mức kinh tế - kỹ thuật vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu ảnh viễn thám quốc gia được ban hành góp phần nâng cao năng lực quản lý, lưu trữ, chia sẻ và cung cấp dữ liệu ảnh viễn thám, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và chuyển đổi số, làm cơ sở cho việc lập dự toán, quản lý chi phí và quyết toán các hoạt động vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia. Thông tư được ban hành đáp ứng Mục tiêu đề ra đến năm 2030 Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, đó là “Quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương trên môi trường số, kết nối và vận hành thông suốt giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị. Hoàn thành xây dựng, kết nối, chia sẻ đồng bộ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu các ngành; khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên số, dữ liệu số, hình thành sàn giao dịch dữ liệu.”