Sign In

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo – Động lực mới đưa ngành Nông nghiệp và Môi trường bứt phá trong giai đoạn 2026–2030

15:30 09/07/2026

Chọn cỡ chữ A a  

Ngày 03/7/2026, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Quyết định số 2570/QĐ-BNNMT về Kế hoạch khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 5 năm giai đoạn 2026–2030. Không chỉ là kế hoạch triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học trong 5 năm tới, Quyết định còn thể hiện rõ định hướng chuyển đổi mô hình phát triển của ngành theo hướng dựa trên tri thức, dữ liệu và công nghệ, coi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực chủ yếu để nâng cao năng lực quản trị, năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của toàn ngành trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Trong những năm gần đây, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã từng bước khẳng định vai trò là nền tảng quan trọng đối với sự phát triển của ngành Nông nghiệp và Môi trường. Từ các giống cây trồng, vật nuôi mới có năng suất cao; các quy trình sản xuất nông nghiệp thông minh; công nghệ bảo quản, chế biến sau thu hoạch; cho đến các hệ thống quan trắc môi trường, dự báo khí tượng thủy văn, quản lý tài nguyên đất, nước, khoáng sản hay ứng dụng viễn thám trong giám sát biến động tài nguyên…, thành tựu khoa học và công nghệ đã góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước cũng như tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế.

Tuy nhiên, yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới cũng đặt ra những đòi hỏi ngày càng cao đối với hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp; nhu cầu bảo đảm an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, an ninh môi trường; yêu cầu giảm phát thải khí nhà kính, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh và chuyển đổi số toàn diện đang làm thay đổi phương thức quản trị của ngành. Trong khi đó, hoạt động nghiên cứu khoa học vẫn còn những hạn chế như kết quả nghiên cứu chưa được thương mại hóa rộng rãi, cơ chế đặt hàng chưa thật sự gắn với nhu cầu thực tiễn, hạ tầng nghiên cứu và dữ liệu còn phân tán, nguồn lực đầu tư còn dàn trải, liên kết giữa cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và địa phương chưa tạo thành một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thống nhất. Chính từ yêu cầu thực tiễn đó, việc ban hành Kế hoạch khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 5 năm giai đoạn 2026–2030 mang ý nghĩa như một bước chuyển quan trọng về tư duy phát triển của toàn ngành.

Khác với nhiều kế hoạch trước đây chủ yếu tập trung vào tổ chức các nhiệm vụ nghiên cứu, Quyết định số 2570/QĐ-BNNMT lần này được xây dựng với cách tiếp cận toàn diện hơn. Kế hoạch xác định rõ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không chỉ là công cụ hỗ trợ mà phải trở thành động lực chủ yếu để thực hiện các mục tiêu phát triển ngành Nông nghiệp và Môi trường giai đoạn 2026–2030. Điều đó đồng nghĩa với việc mọi hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghệ đều phải hướng tới nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng, hiện đại hóa quản trị ngành và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như các chuỗi giá trị nông nghiệp và môi trường. Đồng thời, Kế hoạch cũng định hướng phát triển một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hiện đại, mở và liên thông với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp, các cơ sở nghiên cứu, địa phương và các tổ chức quốc tế trong toàn bộ chuỗi nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ.

Tinh thần đổi mới đó được thể hiện rất rõ qua hệ thống các mục tiêu định lượng mà Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt ra đến năm 2030. Thay vì chỉ xác định những định hướng mang tính định tính, Kế hoạch đã xây dựng một bộ chỉ tiêu cụ thể, có thể đo lường và đánh giá được hiệu quả thực hiện. Đây không chỉ là căn cứ để các đơn vị thuộc Bộ tổ chức triển khai mà còn phản ánh quyết tâm đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực phát triển của toàn ngành.

Đáng chú ý nhất là mục tiêu đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) đạt trên 55% trong tăng trưởng của ngành vào năm 2030. Trong kinh tế học, TFP được xem là chỉ số phản ánh phần tăng trưởng đến từ đổi mới công nghệ, cải tiến quản trị, chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả sử dụng các nguồn lực sản xuất. Khi chỉ tiêu này tăng lên, điều đó cho thấy tăng trưởng không còn phụ thuộc chủ yếu vào việc mở rộng vốn đầu tư hay khai thác thêm tài nguyên mà dựa nhiều hơn vào tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Vì vậy, việc đặt mục tiêu TFP đạt trên 55% thể hiện định hướng chuyển đổi mô hình tăng trưởng của ngành từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, nâng cao chất lượng và hiệu quả thay vì chỉ tăng về quy mô.

Một chỉ tiêu khác cũng rất đáng chú ý là phấn đấu huy động từ 30 đến 35% nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đây là sự thay đổi lớn trong tư duy đầu tư cho khoa học. Nếu trước đây hoạt động nghiên cứu chủ yếu dựa vào nguồn vốn ngân sách thì nay Kế hoạch hướng đến việc huy động mạnh mẽ doanh nghiệp, các quỹ đầu tư, tổ chức khoa học và công nghệ cũng như các nguồn lực xã hội cùng tham gia đầu tư nghiên cứu, chuyển giao và thương mại hóa công nghệ. Điều này không chỉ giúp mở rộng nguồn lực mà còn tạo điều kiện để các kết quả nghiên cứu nhanh chóng được đưa vào thực tiễn, đáp ứng trực tiếp nhu cầu của thị trường và doanh nghiệp.

Song song với đầu tư cho hạ tầng và nguồn lực tài chính, Kế hoạch cũng đặc biệt coi trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Theo đó, đến năm 2030, Bộ sẽ triển khai đề án đào tạo tối thiểu 150 nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao, bao gồm các chuyên gia đầu ngành, nhà khoa học nòng cốt và lực lượng kế cận; đồng thời đào tạo khoảng 1.300 nhân lực về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, sở hữu trí tuệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và quản trị công nghệ. Đây không đơn thuần là những con số về đào tạo mà phản ánh quyết tâm xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ năng lực làm chủ các công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học, viễn thám, hệ thống thông tin địa lý, Internet vạn vật và nhiều công nghệ mới khác trong giai đoạn tới.

Một điểm mới rất đáng chú ý khác là Kế hoạch đặt mục tiêu ít nhất 30% kết quả nghiên cứu từ các viện, trường được ứng dụng hoặc thương mại hóa vào năm 2030. Đây là chỉ tiêu thể hiện rõ yêu cầu chuyển đổi từ nghiên cứu hàn lâm sang nghiên cứu phục vụ thực tiễn. Trong nhiều năm qua, khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng luôn là vấn đề được quan tâm khi không ít kết quả nghiên cứu có giá trị nhưng chưa được doanh nghiệp tiếp nhận hoặc chưa tạo thành sản phẩm phục vụ sản xuất và quản lý. Việc đưa tỷ lệ thương mại hóa trở thành một chỉ tiêu đánh giá sẽ góp phần thay đổi cách thức xây dựng và tổ chức các nhiệm vụ khoa học, buộc mỗi nhiệm vụ phải xác định rõ bài toán cần giải quyết, đơn vị tiếp nhận và khả năng nhân rộng sau khi hoàn thành.

Cùng với đó, Kế hoạch đặt mục tiêu nâng tỷ lệ hài hòa giữa hệ thống tiêu chuẩn quốc gia của ngành với tiêu chuẩn quốc tế lên 80%, đồng thời phấn đấu có 15% nhiệm vụ khoa học phục vụ trực tiếp việc xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và định mức kinh tế - kỹ thuật. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng hội nhập quốc tế và tạo hành lang kỹ thuật cho việc ứng dụng các công nghệ mới trong toàn ngành. Đặc biệt, việc hoàn thiện hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên nền tảng số, kết nối với hệ thống quốc gia, sẽ giúp công tác quản lý nhiệm vụ nghiên cứu minh bạch hơn, đồng thời tạo điều kiện chia sẻ và khai thác hiệu quả các kết quả nghiên cứu giữa các cơ quan, đơn vị trong và ngoài Bộ.

Tiếp theo phần trên:

Không dừng lại ở việc xác lập các mục tiêu và chỉ tiêu, Quyết định số 2570/QĐ-BNNMT còn thể hiện sự đổi mới mạnh mẽ về phương thức tổ chức hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nếu như trước đây, nhiều nhiệm vụ khoa học được triển khai theo cách tiếp cận từ khả năng nghiên cứu của các tổ chức khoa học và công nghệ thì nay Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định chuyển mạnh sang cơ chế đặt hàng từ yêu cầu thực tiễn, từ những "bài toán lớn" của ngành. Mỗi nhiệm vụ khoa học không chỉ phải có mục tiêu nghiên cứu rõ ràng mà còn phải xác định cụ thể sản phẩm cuối cùng, địa chỉ ứng dụng, đơn vị tiếp nhận và khả năng thương mại hóa. Đây là bước chuyển có ý nghĩa quan trọng, bởi hiệu quả của một nhiệm vụ nghiên cứu sẽ không còn được đánh giá chủ yếu qua số lượng báo cáo, bài báo hay hội đồng nghiệm thu mà được đo bằng giá trị thực tiễn, mức độ ứng dụng và những đóng góp cụ thể đối với sự phát triển của ngành.

Để hiện thực hóa cách tiếp cận đó, Kế hoạch đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo hướng đồng bộ với Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và các nghị định hướng dẫn thi hành. Nhiều cơ chế mới sẽ được nghiên cứu, xây dựng như cơ chế đặt hàng theo bài toán lớn của ngành, cơ chế chấp nhận rủi ro có kiểm soát trong nghiên cứu, cơ chế quản lý và khai thác tài sản trí tuệ, chia sẻ lợi ích từ kết quả nghiên cứu, cơ chế huy động doanh nghiệp đồng đầu tư và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với những lĩnh vực có tốc độ đổi mới nhanh. Đây đều là những chính sách có tính đột phá, hướng tới xây dựng một môi trường nghiên cứu thông thoáng hơn, khuyến khích đổi mới sáng tạo, đồng thời tạo điều kiện để các công nghệ mới sớm được thử nghiệm và ứng dụng trong thực tiễn.

Một điểm nổi bật khác của Kế hoạch là xác định rõ những công nghệ chiến lược sẽ được ưu tiên đầu tư và phát triển trong giai đoạn 2026–2030. Theo đó, Bộ tập trung triển khai các nền tảng công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT), blockchain, hệ thống thông tin địa lý (GIS), viễn thám, bản sao số (Digital Twin), robot, tự động hóa và các công nghệ sinh học tiên tiến. Đây không phải là sự lựa chọn ngẫu nhiên mà xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của ngành trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển xanh đang diễn ra mạnh mẽ. Những công nghệ này sẽ được phát triển theo chuỗi hoàn chỉnh từ nghiên cứu, thử nghiệm, tiêu chuẩn hóa, bảo hộ sở hữu trí tuệ, sản xuất thử, trình diễn công nghệ đến ứng dụng và thương mại hóa, tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao phục vụ quản lý nhà nước cũng như sản xuất, kinh doanh.

Đi cùng với phát triển công nghệ là yêu cầu xây dựng nền tảng dữ liệu thống nhất của ngành. Quyết định xác định nhiệm vụ chuẩn hóa, kết nối và chia sẻ các cơ sở dữ liệu khoa học, công nghệ với hệ thống dữ liệu chuyên ngành về đất đai, tài nguyên nước, môi trường, khí tượng thủy văn, lâm nghiệp, thủy sản, nông nghiệp, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn và sở hữu trí tuệ. Điều này cho thấy dữ liệu không còn được xem là sản phẩm của từng lĩnh vực riêng lẻ mà trở thành hạ tầng dùng chung, phục vụ đồng thời công tác quản lý nhà nước, nghiên cứu khoa học và phát triển doanh nghiệp. Khi các cơ sở dữ liệu được liên thông, kết hợp với trí tuệ nhân tạo và các công cụ phân tích hiện đại, năng lực dự báo, cảnh báo và hỗ trợ ra quyết định của ngành sẽ được nâng lên một bước mới, góp phần xây dựng nền quản trị dựa trên dữ liệu thay cho phương thức quản lý truyền thống.

Trong hệ thống các công nghệ chiến lược được ưu tiên phát triển, viễn thám giữ vai trò đặc biệt quan trọng bởi khả năng cung cấp nguồn dữ liệu khách quan, liên tục và trên phạm vi rộng. Quyết định xác định đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng công nghệ số, viễn thám, UAV, GIS, trí tuệ nhân tạo, cảm biến và dữ liệu lớn trong quản lý đất đai, đo đạc và bản đồ, quy hoạch, thống kê, kiểm kê đất đai, theo dõi biến động sử dụng đất, xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính và cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Đồng thời, các công nghệ này cũng sẽ được ứng dụng trong điều tra, quan trắc, giám sát, dự báo và hỗ trợ ra quyết định đối với tài nguyên nước, địa chất, khoáng sản và nhiều lĩnh vực quản lý tài nguyên khác. Đây là định hướng phù hợp với xu thế quốc tế, khi dữ liệu viễn thám ngày càng trở thành một trong những nguồn dữ liệu nền tảng phục vụ xây dựng chính phủ số và quản trị thông minh.

Đối với Cục Viễn thám quốc gia, Quyết định số 2570/QĐ-BNNMT mang ý nghĩa đặc biệt khi giao Cục chủ trì xây dựng Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo lĩnh vực viễn thám giai đoạn 2026–2030. Đây là một trong những chương trình cấp Bộ được xây dựng nhằm cụ thể hóa Kế hoạch 5 năm, đồng thời tạo khung định hướng để triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu trọng điểm của lĩnh vực viễn thám trong thời gian tới. Việc giao Cục chủ trì không chỉ khẳng định vai trò đầu mối quản lý nhà nước về viễn thám mà còn đặt ra yêu cầu xây dựng một chương trình có tầm nhìn dài hạn, tập trung vào những công nghệ lõi và các bài toán lớn của ngành, bảo đảm dữ liệu viễn thám được khai thác hiệu quả hơn trong phục vụ quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phát triển nông nghiệp và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Từ định hướng của Kế hoạch, có thể thấy Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo lĩnh vực viễn thám sẽ không chỉ tập trung vào phát triển công nghệ xử lý ảnh vệ tinh hay xây dựng cơ sở dữ liệu, mà còn hướng tới việc hình thành các nền tảng số tích hợp, kết nối dữ liệu viễn thám với các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác của Bộ. Khi kết hợp với trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và mô hình bản sao số, dữ liệu viễn thám sẽ góp phần nâng cao năng lực giám sát tài nguyên thiên nhiên theo thời gian thực, phát hiện sớm các biến động về sử dụng đất, suy giảm rừng, ô nhiễm môi trường, biến đổi nguồn nước, sạt lở, hạn hán và nhiều hiện tượng khác. Đây cũng là nền tảng quan trọng để xây dựng các hệ thống hỗ trợ ra quyết định, phục vụ điều hành của các cơ quan quản lý từ Trung ương đến địa phương.

Một điểm đáng chú ý khác là Kế hoạch không chỉ hướng tới phát triển công nghệ mà còn đặc biệt coi trọng việc hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của ngành. Theo đó, các cơ quan quản lý nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, hợp tác xã và địa phương sẽ được kết nối chặt chẽ hơn thông qua các cơ chế hợp tác nghiên cứu, đặt hàng, chuyển giao công nghệ, biệt phái chuyên gia, phòng thí nghiệm liên kết và trung tâm đổi mới sáng tạo. Mục tiêu cuối cùng là rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng, đưa các kết quả khoa học nhanh chóng đi vào thực tiễn, đồng thời tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào quá trình đổi mới sáng tạo của ngành.

Việc ban hành Quyết định số 2570/QĐ-BNNMT vì vậy không chỉ mở đầu cho một giai đoạn triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ mới mà còn đánh dấu sự chuyển biến về tư duy phát triển của ngành Nông nghiệp và Môi trường. Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được đặt vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển; dữ liệu và công nghệ số trở thành nền tảng của quản trị hiện đại; doanh nghiệp và thị trường trở thành động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo; còn hiệu quả ứng dụng được xem là thước đo của mọi nhiệm vụ nghiên cứu. Với cách tiếp cận đó, Kế hoạch khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2026–2030 được kỳ vọng sẽ tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ trong toàn ngành, góp phần thực hiện thành công mục tiêu phát triển nền nông nghiệp sinh thái, hiện đại, nền kinh tế xanh, tuần hoàn và xây dựng hệ thống quản lý tài nguyên, môi trường dựa trên dữ liệu, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đối với Cục Viễn thám quốc gia, đây cũng là thời điểm để phát huy vai trò tiên phong trong nghiên cứu, ứng dụng và làm chủ công nghệ viễn thám, đóng góp tích cực vào quá trình chuyển đổi số của ngành và phục vụ hiệu quả sự phát triển bền vững của đất nước.

 

Văn phòng Cục Viễn thám quốc gia

Ý kiến

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số – Động lực đưa viễn thám trở thành hạ tầng dữ liệu chiến lược phục vụ phát triển nông nghiệp, môi trường

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số – Động lực đưa viễn thám trở thành hạ tầng dữ liệu chiến lược phục vụ phát triển nông nghiệp, môi trường

Trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực then chốt để phát triển đất nước nhanh và bền vững, lĩnh vực viễn thám đang đứng trước những cơ hội phát triển mạnh mẽ chưa từng có. Với lợi thế cung cấp nguồn dữ liệu quan sát Trái đất liên tục, khách quan và trên phạm vi rộng, công nghệ viễn thám ngày càng khẳng định vai trò là hạ tầng dữ liệu quan trọng phục vụ quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phát triển nông nghiệp hiện đại, phòng chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu và hỗ trợ quá trình ra quyết định của các cấp quản lý.
Hoàn thiện Định hướng nghiên cứu cơ bản giai đoạn 2026–2030: Xây dựng nền tảng khoa học cho các công nghệ chiến lược của đất nước

Hoàn thiện Định hướng nghiên cứu cơ bản giai đoạn 2026–2030: Xây dựng nền tảng khoa học cho các công nghệ chiến lược của đất nước

Trong kỷ nguyên kinh tế tri thức và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia ngày càng phụ thuộc vào trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Những thành tựu mang tính đột phá trong trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn, công nghệ lượng tử, công nghệ sinh học, vật liệu mới hay công nghệ vũ trụ đều có điểm chung là được hình thành từ các nghiên cứu cơ bản kéo dài nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ. Vì vậy, đầu tư cho nghiên cứu cơ bản không chỉ nhằm tạo ra các công trình khoa học mà còn là đầu tư cho năng lực tự chủ công nghệ, cho sự phát triển bền vững và vị thế cạnh tranh của quốc gia trong tương lai.

Nâng cao năng lực ứng dụng dữ liệu radar vệ tinh SAR: Cục Viễn thám quốc gia tổ chức khóa đào tạo về chòm vệ tinh cosmo-skymed

Trong bối cảnh nhu cầu khai thác dữ liệu viễn thám phục vụ quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và ứng phó thiên tai ngày càng gia tăng, công nghệ radar khẩu độ tổng hợp (Synthetic Aperture Radar - SAR) đang trở thành một trong những công nghệ quan sát Trái đất có vai trò đặc biệt quan trọng. Khác với các hệ thống vệ tinh quang học phụ thuộc vào điều kiện thời tiết và ánh sáng mặt trời, vệ tinh SAR có khả năng thu nhận dữ liệu cả ngày lẫn đêm, xuyên qua mây, mưa và nhiều điều kiện thời tiết bất lợi, qua đó bảo đảm tính liên tục của nguồn dữ liệu phục vụ giám sát, theo dõi và quản lý lãnh thổ.