Sign In

Ứng dụng viễn thám trong giám sát một số thông số chất lượng không khí: Bước tiến mới trong quản lý môi trường

15:14 02/07/2026

Chọn cỡ chữ A a  

Trong bối cảnh ô nhiễm không khí đang trở thành một trong những thách thức môi trường lớn tại nhiều đô thị và khu vực công nghiệp, việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào công tác quan trắc, giám sát chất lượng môi trường ngày càng trở nên cấp thiết. Công nghệ viễn thám, với khả năng quan sát trên diện rộng, cập nhật nhanh và liên tục, đang mở ra hướng tiếp cận mới, hiệu quả trong giám sát chất lượng không khí.

Nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý và thiết lập cơ sở kỹ thuật thống nhất cho hoạt động này, Cục Viễn thám quốc gia đã xây dựng dự thảo “Thông tư ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giám sát một số thông số chất lượng không khí bằng công nghệ viễn thám” và hồ sơ dự thảo hiện đang gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường để thẩm định chuyên môn theo quy định.

Dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) được xây dựng nhằm quy định thống nhất các yêu cầu kỹ thuật trong hoạt động giám sát một số thông số chất lượng không khí bằng công nghệ viễn thám, làm cơ sở cho việc tổ chức thực hiện, quản lý, kiểm tra và đánh giá chất lượng sản phẩm trên phạm vi toàn quốc.

Dự thảo QCVN tập trung quy định các yêu cầu kỹ thuật đối với hoạt động giám sát định kỳ và đột xuất 06 thông số chất lượng không khí quan trọng gồm: CO, SO₂, NO₂, O₃, PM₁₀ và PM₂.₅. Đây là những thông số phản ánh trực tiếp mức độ ô nhiễm không khí, có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng đồng, hệ sinh thái và chất lượng môi trường sống.

Điểm nổi bật của dự thảo QCVN là việc quy định đầy đủ quy trình kỹ thuật từ thu nhận dữ liệu ảnh viễn thám, thu thập dữ liệu quan trắc mặt đất, tích hợp dữ liệu khí tượng bổ trợ, chuẩn hóa dữ liệu đầu vào đến xây dựng các mô hình tính toán nồng độ chất ô nhiễm tại tầng mặt đất. Quy chuẩn cũng đưa ra các tiêu chí đánh giá độ chính xác của kết quả nhằm bảo đảm tính tin cậy và khả năng ứng dụng thực tiễn của sản phẩm giám sát.

 

So với phương pháp quan trắc truyền thống phụ thuộc chủ yếu vào mạng lưới trạm đo mặt đất, công nghệ viễn thám mang lại nhiều lợi thế như khả năng bao phủ không gian rộng, giám sát các khu vực khó tiếp cận và hỗ trợ phân tích xu thế ô nhiễm theo thời gian. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh yêu cầu về quản lý môi trường ngày càng đòi hỏi dữ liệu nhanh, đồng bộ và có độ chính xác cao.

Việc xây dựng và ban hành QCVN về giám sát một số thông số chất lượng không khí bằng công nghệ viễn thám không chỉ góp phần hoàn thiện hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trong lĩnh vực viễn thám mà còn tạo nền tảng quan trọng để thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong công tác bảo vệ môi trường.

Sau khi được thẩm định, hoàn thiện và ban hành, QCVN sẽ là cơ sở để các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức và đơn vị chuyên môn triển khai thống nhất hoạt động giám sát chất lượng không khí bằng công nghệ viễn thám trên phạm vi cả nước, góp phần nâng cao hiệu quả cảnh báo ô nhiễm, hỗ trợ hoạch định chính sách và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

Attachments:

Tạ T Vân Anh - Phòng Quản lý hoạt động viễn thám

Ý kiến

Tiếp thu, giải trình hoàn thiện dự thảo Nghị định về hoạt động viễn thám

Tiếp thu, giải trình hoàn thiện dự thảo Nghị định về hoạt động viễn thám

Trong hơn một thập kỷ trở lại đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, viễn thám đã chuyển mình từ một công cụ phục vụ chủ yếu cho điều tra cơ bản tài nguyên và môi trường trở thành hạ tầng thông tin quan trọng của nền kinh tế số. Dữ liệu viễn thám ngày nay không chỉ phục vụ công tác quản lý đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản, rừng hay môi trường mà còn được ứng dụng rộng rãi trong quy hoạch phát triển, nông nghiệp công nghệ cao, giám sát thiên tai, quản lý đô thị thông minh, phát triển hạ tầng giao thông, kinh tế biển, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nhiều lĩnh vực khác. Cùng với sự xuất hiện của trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây và các công nghệ xử lý ảnh hiện đại, giá trị của dữ liệu viễn thám không còn dừng lại ở việc cung cấp thông tin mà đang trở thành nguồn tài nguyên số có khả năng tạo ra những giá trị mới cho phát triển kinh tế - xã hội.
Đà Nẵng đề xuất mở không gian tăng trưởng mới từ kinh tế tầm thấp

Đà Nẵng đề xuất mở không gian tăng trưởng mới từ kinh tế tầm thấp

Đề xuất thí điểm phát triển kinh tế không gian tầm thấp của thành phố Đà Nẵng đang mở ra một hướng tiếp cận mới đối với việc khai thác các thành tựu của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Không chỉ dừng ở việc ứng dụng thiết bị bay không người lái (UAV), thành phố hướng tới hình thành một hệ sinh thái kinh tế mới dựa trên sự hội tụ của UAV, trí tuệ nhân tạo (AI), vi mạch bán dẫn và dữ liệu số, được vận hành trong một khuôn khổ thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox). Đáng chú ý, nếu kết nối với dữ liệu viễn thám vệ tinh, GIS, GeoAI và các nền tảng dữ liệu không gian, mô hình này có thể mở rộng đáng kể giá trị của kinh tế tầm thấp trong quản lý tài nguyên, môi trường, nông nghiệp, lâm nghiệp và phòng chống thiên tai. Quan trọng hơn, đề xuất của Đà Nẵng cũng đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản lý nhà nước: phải tạo được không gian cho công nghệ mới được thử nghiệm, nhưng đồng thời duy trì kiểm soát chặt chẽ về an toàn, quốc phòng, an ninh, dữ liệu và trách nhiệm pháp lý.
Chủ động chuẩn bị xây dựng Luật Viễn thám – nhiệm vụ trọng tâm của Cục Viễn thám quốc gia trong thực hiện Kế hoạch định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Chủ động chuẩn bị xây dựng Luật Viễn thám – nhiệm vụ trọng tâm của Cục Viễn thám quốc gia trong thực hiện Kế hoạch định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Ngày 29/6/2026, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Quyết định số 2484/QĐ-BNNMT kèm theo Kế hoạch thực hiện Kết luận số 17-KL/TW của Bộ Chính trị và Kế hoạch số 64/KH-UBTVQH16 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI. Đây là kế hoạch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, xác định rõ lộ trình hoàn thiện hệ thống pháp luật thuộc phạm vi quản lý của Bộ trong giai đoạn 2026–2030, đồng thời phân công cụ thể trách nhiệm của từng đơn vị đối với từng nhiệm vụ lập pháp.